"Theo tổng kết của Thủ tướng, năm 2010, thu nhập của dân
cư tăng 35% so với năm 2006 (đã loại trừ yếu tố tăng
giá)".
Mô mà ra con số đẹp rứa hè?
1. Theo Nghị định 94/2006/NĐ-CP, kể từ ngày 1.10.2006, mức
lương tối thiểu chung hiện hành (được quy định tại Nghị
định số 118/2005/NĐ-CP ngày 15.9.2005 của Chính phủ) từ 350.000
đồng/tháng lên 450.000 đồng/tháng.
Tui làm nhà nước, ví dụ lương hệ số 3.00 thì lãnh 1.050.000
đồng (gần gần như vậy).
Theo
http://vietbao.vn/Kinh-te/Gia-vang-van-tro-chung-trong-nam-2006/65040006/88/
thì giá vàng mỗi chỉ là 1.050.000 đồng. Vậy tháng lương
đúng 1 chỉ vàng.
2. Đến 2011, cho tui lên bậc lương, sẽ là 3,25 (cho là như
vậy). Tui sẽ lãnh 700.000 x 3,25 = 2.187.000 đồng.
Giá vàng hiện thời 3.700.000 đồng.
Rứa tui chỉ mua được... hơn nửa chỉ vàng.
So sánh, tiền lương của tui so với trước, so theo vàng, chỉ
còn 59,1%. Nghĩa là giảm gần một nửa.
Còn tính theo thịt heo thì:
Theo http://vietbao.vn/Kinh-te/Thit-heo-e-gia-giam/55111333/88/ giá thịt
heo ngày 19 tháng 5 năm 2006 thịt heo đùi 30.000 đồng ký.
Với 1.050.000 tui mua được 35 ký.
Theo
http://www.hiepquang.com/vi/tin-tuc-su-kien/tin-trong-nuoc/364-thit-gia-suc-nhay-gia-khan-hang.html
giá thịt heo đùi 83.000 đến 88.000 đồng ký. Bình quân 85.000
đồng đi
Với 2.187.000 đồng tui mua được 25,7 ký.
Rứa là tính đằng nào, thu nhập thức tế của tui cũng giảm.
Hổng biết chính phủ lấy con số thu nhập của cư dân tăng
35%, một con số khủng, đáng mơ ước, lấy ở đâu ra thế hè?
Đúng là mấy ông thầy vẽ cái bánh vẽ quá… đẹp!
Tìm kiếm Blog này
Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2011
Cuộc hội luận cùng Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên: Câu trả lời vòng Hai (2)
Cần làm gì trong tình hình hiện nay?
Câu hỏi số 4: Một câu hỏi rất quan trọngmà Dân Luận dành cho THDCĐN là câu hỏi số 6, về lực lượng
thanh niên Việt Nam. Tôi chia sẻ phân tích của ông Nguyễn Gia
Kiểng về một tương lai bi đát cho thanh niên Việt Nam, cũng
như căn bệnh thờ ơ và bất lực mà họ đang gặp phải. Tuy
nhiên, tôi thấy THDCĐN vẫn chưa trả lời được câu hỏi:
"Tập Hợp đã có những biện pháp gì để tiếp cận và quảng
bá tư tưởng của mình tới lực lượng này?"
Tập Hợp không thể ngồi đó và trách giới trẻ thờ ơ và
bất lực. Tập Hợp không thể trông đợi vào vận may, rằng
một ngày nào đó giới trẻ sẽ thức tỉnh. Tập Hợp cần
phải chủ động tạo sự thay đổi, bằng những phương tiện
và cách thức mà giới trẻ ưa chuộng. Nếu giới trẻ cảm
thấy không thể nuốt nổi Dự Án Chính Trị dù nó chỉ có
gần 150 trang, thì Tập Hợp có tính đến chuyện sử dụng
YouTube, biếm họa hay pop music v.v. để truyền tải thông điệp
của mình một cách "cool and sexy" hay không?
Hoàng An Việt trả lời:
Chào bạn, trước hết xin trân trọng và thân mến tiếp thu
thông điệp của bạn: Tập Hợp không thể ngồi đó và
trách giới trẻ thờ ơ và bất lực. Tập Hợp không thể trông
đợi vào vận may, rằng một ngày nào đó giới trẻ sẽ thức
tỉnh. Tập Hợp cần phải chủ động tạo sự thay đổi, bằng
những phương tiện và cách thức mà giới trẻ ưa chuộng.
Xin bắt tay và cảm ơn bạn!
Trong vòng I: [http://danluan.org/node/8026] của cuộc hội luận này
tôi đã trả lời câu hỏi mà bạn nhắc lại: "Tập Hợp
đã có những biện pháp gì để tiếp cận và quảng bá tư
tưởng của mình tới lực lượng này?"
Bổ sung giải thích của tôi, ông Nguyễn Gia Kiểng phân tích
tình hình thực trạng của thanh niên Việt Nam hiện nay, chứ
thật sự ông Nguyễn Gia Kiểng (hoặc THDCĐN theo cách nói của
bạn) không trách móc giới trẻ. Những phân tích của ông
Nguyễn Gia Kiểng giúp chúng ta, những người trẻ, nhìn ra chỗ
đứng và thân phận của mình để cùng nhau dấn thân hơn để
tranh đấu cho xã hội, quê hương Việt Nam và cho chính mình.
Và thưa bạn, không chỉ là riêng giới trẻ Việt Nam thờ ơ
với xã hội. Sự thờ ơ của giới trẻ đối với hiện tình
xã hội đất nước là mối nguy cho bất kỳ một quốc gia nào,
dù là quốc gia dân chủ hay độc tài. Vấn đề chỉ là mức
độ thờ ơ của tuổi trẻ Việt Nam quá cao so với mức trung
bình thế giới. Và trong khi ở các nước khác người ta đã
báo động thì tại Việt Nam, mà mức độ thờ ơ của thanh
niên còn đáng lo âu gấp nhiều lần, nhưng sự báo động này
lại quá yếu ớt. Mời bạn cùng suy nghĩ lời kêu gọi giới
trẻ Pháp của ông Stéphane Hessel, một cựu chiến binh, tác giả
cuốn sách "Indignez Vous!" ("Hãy phẫn
nộ!"), qua bài giới thiệu sách của ký giả Đức Tâm @RFI
[http://www.viet.rfi.fr/phap/20110318-%C2%AB-hay-phan-no-%C2%BB-loi-keu-goi-cua-mot-cuu-chien-binh-doi-voi-gioi-tre-phap]:
"Hãy tìm kiếm một chút, các bạn sẽ thấy. Thái độ
tồi tệ nhất là sự thờ ơ và nói rằng tôi không thể làm
gì được, tôi tự xoay xở. Khi hành xử như vậy, các bạn đã
mất đi một trong những yếu tố cơ bản của con người, một
trong những yếu tố thiết yếu: đó là khả năng nổi giận và
hậu quả tiếp theo của nó là sự dấn thân".
Ông Stéphane Hessel nhấn mạnh đến sự cần thiết phải đấu
tranh chống thờ ơ:
"Tôi có cảm giác là chúng ta có nguy cơ bị mất phương
hướng trong một xã hội thế giới toàn cầu hóa, chủ yếu
dựa vào lợi nhuận, tìm kiếm các thỏa mãn vật chất và làm
mất đi một phần những giá trị cơ bản. Đương nhiên,
người ta tiếp tục nói là cần phải tôn trọng nhân quyền,
nhưng người ta không làm một cách thực sự, trên thế giới,
hay ở Mỹ trong thời kỳ tổng thống George W. Bush. Thậm chí,
theo tôi thì ngay tại Pháp, người ta cũng không làm việc này
một cách đầy đủ.
Vì những lý do này, tôi nghĩ, điều quan trọng là phải
nhắc lại rằng có những giá trị từ thời kháng chiến, nhưng
vẫn có thể áp dụng cho ngày nay cho dù bối cảnh đã thay
đổi hoàn toàn. Do vậy, điều hữu ích là kêu gọi giới trẻ
Pháp, giới trẻ châu Âu và toàn thế giới hãy biết nổi giận
chống lại những điều mà họ cho là không thể chấp nhận
được".
Thưa bạn, đọc đến đây chắc là bạn sẽ thông cảm hơn
nữa sự băn khoăn và lo âu của ông Nguyễn Gia Kiểng.
Chúng tôi, THDCĐN không hề trông đợi vào vận may rủi mà
chúng tôi đã và đang từng bước nỗ lực hết sức mình để
mời gọi các bạn trẻ cùng đồng hành với chúng tôi.
THDCĐN chúng tôi luôn cố gắng nhận định đúng và chính xác
tình trạng tâm lý của giới trẻ Việt Nam nói riêng và các
tầng lớp quần chúng Việt Nam nói chung. THDCĐN không than vãn
và cũng không hề trách móc giới thanh niên Việt Nam vì THDCĐN
biết rằng, tất cả người dân Việt Nam đang là nạn nhân
của một hệ thống kìm kẹp khổng lồ hiếm có trong lịch sử
thế giới. Khi chúng ta định dạng được căn bệnh thì chúng
ta mới tìm ra được phương thức cứu chữa.
Một trong những ưu tư hàng đầu của THDCĐN là chuyển tải
những suy tư, những ước vọng một nước Việt Nam hùng
cường có thể sánh vai với các nước trên thế giới đến
mọi tầng lớp xã hội Việt Nam, đặc biệt với giới trẻ
thanh niên Việt Nam. THDCĐN chúng tôi đang dồn mọi nỗ lực
để thông điệp này đến tận tay mọi người, và đề nghị
hóm hỉnh của bạn cũng có ý nghĩa thật hay: "Tập Hợp
có tính đến chuyện sử dụng YouTube, biếm họa hay pop music
v.v. để truyền tải thông điệp của mình một cách "cool and
sexy" hay không?". Chúng tôi sẽ cố gắng nỗ lực nghiên
cứu các phương án này. Chúng tôi sẵn sàng đón nhận các ý
kiến đóng góp của tất cả các bạn.
Anh em chúng tôi trong THDCĐN đã vận dụng tất cả những cố
gắng bản thân để xây dựng tổ chức. Nhưng cũng mong các
bạn hiểu cho, chúng tôi cũng chỉ là những con người rất
bình thường, chúng tôi hằng ngày cũng phải lo công ăn việc
làm để nuôi sống gia đình, có khác chăng là một tình yêu
với đồng bào và đất nước và một quyết tâm sống và tranh
đấu một cách lương thiện. Trong hoàn cảnh tự lực, không
trông chờ bất cứ thứ "viện trợ" nào, THDCĐN chúng tôi
phải thành thật thú nhận chúng tôi đương nhiên là rất
thiếu về phương tiện nhân sự lẫn về phương tiện tài
chánh. Chúng tôi luôn mong mỏi sự hợp tác của mọi người,
nhất là thanh niên Việt Nam.
Mong rằng trong một tương lai gần, bạn và tôi, chúng ta sẽ
cùng nắm chặt tay nhau mơ ước và xây dựng một tương lai
Việt Nam chung. Vì tương lai đất nước cũng là tương lai của
tuổi trẻ.
Câu hỏi số 5: THDCĐN đã làm gì để vận
động và tuyên truyền tới đồng bào trong và ngoài nước?
Trong nước, chỉ một bộ phận nhỏ có khả năng tiếp cận
internet, có kỹ thuật vượt tường lửa và có sự quan tâm
đến chính trị là tìm đến các trang lề trái để đọc. Quý
vị đã làm gì để tiếp cận phần còn lại, thay vì chờ họ
đến với mình?
Hoàng An Việt trả lời:
Thưa bạn,
Sự thành công của một cá nhân hay bất kỳ một tổ chức nào
đều lệ thuộc vào khả năng và vai trò của truyền thông.
Với một tổ chức chính trị thì vấn đề truyền thông không
chỉ là bí quyết thành công mà còn là vấn đề sinh tử:
được lớn mạnh cũng nhờ truyền thông và bị đổ vỡ cũng
vì truyền thông.
Như bạn đã thấy, các chế độ độc tài ra sức kiểm soát
và khống chế truyền thông, nhưng cấm đoán và ngăn chặn
truyền thông chỉ là cố gắng tuyệt vọng trong thời đại
internet.
Mạng internet và các dụng cụ nối kết xã hội như Facebook,
Twitter sẽ còn tiếp tục phát triển mạnh mẽ và chắc chắn
trong một tương lai gần chúng ta sẽ tới một điểm là ai
muốn biết điều gì đều có thể biết. Thế nhưng, hạn chế
chính vẫn là con người, văn hóa và tâm lý. Những hạn chế
này có hai lý do chính yếu:
a/ Chế độ độc tài đảng trị ngăn cấm, đàn áp và khủng
bố;
b/ Tâm lý thờ ơ và luồn lách bằng các giải pháp cá nhân
vẫn hiện hữu lan tràn trong xã hội Việt Nam.
Một nhóm anh em trong THDCĐN đang được ủy nhiệm thử nghiệm
cách thức sử dụng các dụng cụ nối kết mạng xã hội để
đưa thông điệp dân chủ đến với thật nhiều người. Nhận
định quan trọng rõ nét của chúng tôi là "nội dung thông
điệp" chứ không phải là "kỹ thuật thực hiện". Mục
đích của một thông điệp là muốn người nhận hiểu biết
một điều gì đó hoặc làm một việc nào đó. Như vậy phải
đặt những câu hỏi như thông điệp muốn gửi đến ai, có
đến đúng lúc không, có sức thuyết phục không v.v. Thế
nhưng, có nhiều trường hợp mà thông điệp gửi đi chỉ gây
tổn thương hoặc bực bội cho người nhận.
Trở lại câu hỏi của bạn,"Quý vị đã làm gì để tiếp
cận phần còn lại, thay vì chờ họ đến với mình?". Thực
chất của câu hỏi này là vấn đề "vận động quần
chúng", điều này là bắt buộc và hiển nhiên vì xét về
mặt triết lý chính trị, mục đích của hoạt động chính
trị là đem lại lợi ích tối đa cho thật nhiều người, nghĩa
là mưu cầu phúc lợi xã hội cho quần chúng. Thế nhưng, cũng
xin được nhắc với bạn, trong Dự Án Chính Trị của THDCĐN,
chúng tôi khẳng định rằng "vận động quần chúng" là
cố gắng nằm trong hai giai đoạn cuối cùng trong năm giai đoạn
của lộ trình vận động dân chủ. Trước đó trong khả năng
hạn hẹp của mình, chúng tôi đặt lòng tin vào một sự phân
công tự nhiên: Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên và các tổ chức
cùng bản chất động viên thiểu số năng động quan tâm tới
đất nước; kế tiếp sẽ đến lượt thiểu số năng động
này động viên quần chúng.
Câu hỏi số 6: Trong một tranh luận khác trên
Dân Luận, không liên quan đến cuộc hội luận, ông Việt Hoàng
cho rằng giai cấp công nhân và nông dân không thể là lực
lượng lãnh đạo các cuộc cách mạng. Lực lượng trí thức
tinh hoa của dân tộc phải là lực lượng dẫn dắt và lãnh
đạo các cuộc cách mạng. THDCĐN đã làm gì để chứng tỏ
với những người công nhân và nông dân Việt Nam rằng mình
xứng đáng là người đại diện cho họ, là lực lượng dẫn
dắt và lãnh đạo họ trong cuộc cách mạng dân chủ tương
lai?
Việt Hoàng trả lời:
Tôi nghĩ rằng độc giả đặt câu hỏi này, có lẽ đồng ý
với tôi là 'giai cấp công nhân và nông dân không thể là
lực lượng lãnh đạo các cuộc cách mạng. Lực lượng trí
thức tinh hoa của dân tộc phải là lực lượng dẫn dắt và
lãnh đạo các cuộc cách mạng'. Tất nhiên, là sẽ và
nên như vậy, không lẽ giai cấp công nhân và nông dân lại là
lực lượng dẫn dắt và lãnh đạo tầng lớp tinh hoa và trí
thức?
Ví dụ thì rất nhiều. Ở các nước văn minh và phát triển
như Mỹ hay Châu Âu thì tầng lớp trí thức luôn nhận trách
nhiệm dẫn dắt và lãnh đạo đất nước. Nước Mỹ từ lúc
lập quốc cách đây hơn 200 năm, hay Châu Âu thế kỷ 17, 18 dân
trí của họ lúc đó rất kém, nhiều người dân không biết
đọc biết viết nhưng vì họ đã được giới trí thức, các
nhà tư tưởng chính trị- văn hoá khai sáng, hướng dẫn và
lãnh đạo giành lại quyền làm chủ bản thân, làm chủ đất
nước vốn đang nằm trong tay chế độ phong kiến. Các nước
đó đã vươn lên mạnh mẽ. Trong khi đó ở Việt Nam thì vừa
giành được độc lập từ người Pháp thì lại rơi vào sự
lãnh đạo của đảng cộng sản, một đảng duy nhất độc
quyền lãnh đạo trong đó có rất nhiều người lãnh đạo tối
cao xuất thân từ tầng lớp công nhân và nông dân. Tất nhiên,
bây giờ đảng cộng sản luôn tìm mọi cách xoá bỏ dấu vết
của buổi ban đầu khốn khó bằng lối sống xa hoa và kệch
cỡm, nhưng vẫn không thể che giấu được những lối hành xử
thô vụng thiếu văn hoá, phản ánh xuất thân của họ là từ
tầng lớp nghèo khổ trong xã hội. Không phải tự nhiên mà họ
viết trịnh trọng vào Hiến pháp rằng: 'Đảng cộng sản
Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, là
lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội;
là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách
mạng Việt Nam. Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của
giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam'.
Những thành phần trí thức trong đảng cộng sản hầu như bị
loại bỏ trong chiến dịch 'Cải cách ruộng đất'. Chúng ta
cũng đừng quên rằng tiêu chí để nhanh chóng được vào
đảng là phải thật nghèo khổ và... cực đoan. Đừng nghĩ là
bây giờ không còn hiện tượng đó nữa, cứ nhìn vào bộ máy
lãnh đạo hiện nay ở các địa phương như cán bộ xã, công an
xã, dân phòng… và sau đó là các cấp cao hơn là thấy rõ
nguồn gốc xuất thân của họ.
Trở lại câu hỏi của độc giả 'THDCĐN đã làm gì để
chứng tỏ với những người công nhân và nông dân Việt Nam
rằng mình xứng đáng là người đại diện cho họ, là lực
lượng dẫn dắt và lãnh đạo họ trong cuộc cách mạng dân
chủ tương lai?' . Tôi xin được miễn trả lời câu hỏi
này. Khi đưa ra phát biểu rằng trí thức phải lãnh đạo cuộc
cách mạng dân chủ tôi chỉ muốn nhắc lại một sự thực là
cuộc cách mạng nào cũng đều phải do trí thức khởi xướng
và lãnh đạo. THDCDN là một tổ chức đấu tranh cho dân chủ,
nó được đánh giá như thế nào là tùy ở nhận thức của
mỗi người. Cũng như mọi tổ chức chính trị, vai trò mà nhân
dân dành cho nó sẽ được quyết định sau này qua những cuộc
bầu cử tự do. Trước đó tham vọng của THDCĐN là góp phần
tranh đấu để đất nước có dân chủ.
Câu hỏi số 7: THDCĐN nêu lên ba giá trị nền
tảng, đó là Dân Chủ Đa Nguyên, Hoà Giải và Hoà Hợp Dân
Tộc, và Bất Bạo Động. Tôi tán thành cả 3 giá trị này của
tổ chức, nhưng cá nhân tôi thấy giá trị Hoà Giải và Hoà
Hợp Dân Tộc là quan trọng nhất cho bài toán Việt Nam, và vì
thế cần được cụ thể hoá để độc giả có thể hình dung
Hoà Giải và Hoà Hợp Dân Tộc gồm có những bước nào, hoà
giải ra làm sao, ai phải hoà giải với ai, cơ quan nào làm
trọng tài nếu một bên không chấp nhận? Làm sao có thể hoà
giải với chính quyền Cộng Sản và người dân Việt Nam khi
Đảng Cộng Sản Việt Nam là người nắm quyền lực lớn nhất
lại không chịu hoà giải?
Việt Hoàng trả lời:
Trong phần một của cuộc hội luận đã có độc giả nêu ra
câu hỏi này nhưng vì Dân Luận không hỏi nên chúng tôi chưa
có dịp trả lời. Sau đó tôi đã đề cập đến vấn đề này
qua bài viết 'Cách
mạng dân chủ cho Việt Nam, khi nào sẽ đến?' trên
báo Thông Luận (số 256). Điều khiến chúng tôi vui mừng và
muốn cám ơn độc giả đã đặt câu hỏi này đó là việc
độc giả cho rằng 'cá nhân tôi thấy giá trị Hoà Giải
và Hoà Hợp Dân Tộc là quan trọng nhất cho bài toán Việt
Nam'. Như vậy là chúng ta đã 'đồng thuận' với nhau
trên lập trường, vốn vẫn còn gây tranh cãi của THDCĐN. Vấn
đề quan trọng mà độc giả ưu tư là việc thực thi giá trị
này như thế nào? Đây là câu hỏi rất cần thiết và câu trả
lời cũng cần rõ ràng và dứt khoát.
Xin trích một đoạn trong bài Cách mạng dân chủ cho Việt
Nam, khi nào sẽ đến?': "Một lời nói thêm về hoà
giải và hoà hợp dân tộc. Hoà giải và hoà hợp dân tộc là
một trong ba lập trường căn bản của Tập Hợp Dân Chủ Đa
Nguyên. Hoà giải không có nghĩa là bỏ qua tất cả mọi chuyện
trong quá khứ, hoà giải để có cái nhìn đúng đắn về quá
khứ, để mang lại công bằng cho những nạn nhân trong quá
khứ. Những người bị oan trái dưới chế độ cũ sẽ được
chính quyền mới xin lỗi và bồi thường thích đáng về tinh
thần cũng như vật chất. Trong khi đó hoà giải cũng là để
hướng tới tương lai, chính quyền dân chủ sẽ không bao giờ
hành động như chính quyền cộng sản trong quá khứ, có nghĩa
là trong tương lai sẽ không có bất kỳ một vụ án chính trị
nào thậm chí sẽ còn có một đạo luật cấm nhà nước truy
tố bất cứ ai vì những chức vụ họ đã từng giữ. Chúng ta
phải nhìn nhận một sự thật là việc đảng cộng sản cầm
quyền trong thời gian qua cùng với những sai lầm của họ cũng
là một phần của lịch sử Việt Nam cận đại. Chúng ta lấy
những bài học đau thương đó để rút ra những kinh nghiệm cho
hiện tại và tương lai. Có nghĩa là chúng ta quyết không để
những chuyện như vậy xảy ra nữa.
Hoà giải là việc phải làm trước khi chúng ta có thể hoà
hợp với nhau. Sự hoà giải đó phải được đặt trên nền
tảng của thái độ khiêm tốn, sự nhìn nhận rằng những
người từng xung đột với mình cũng có lý do của họ. Một
dân tộc cũng như một gia đình sau một cuộc xung đột chỉ có
hai lựa chọn: Một là hoà giải để tiếp tục chung sống và
xây dựng một tương lai chung. Hai là không hoà giải và chấp
nhận tan vỡ. Hoà giải và hoà hợp dân tộc là ngôn ngữ và
lập trường của những người không muốn nước Việt Nam tan
vỡ.
Sau khi dân tộc Việt Nam hoà giải với nhau thì chúng ta sẽ
cùng 'hoà hợp', chữ "hoà" ở đây còn có nghĩa là "biến
mất trong", như đường hoà tan trong nước. Hoà hợp có nghĩa
là gắn bó mật thiết và triệt để thành một. Vậy hoà hợp
dân tộc là 'đoàn kết dân tộc ở mức cao nhất'. Đó là
một tình trạng lý tưởng mà người ta chỉ có thể cố gắng
tối đa chứ không bao giờ đạt tới được một cách trọn
vẹn. Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên sẽ cố gắng ở mức cao
nhất để dân tộc Việt Nam có thể hoà hợp với nhau là
một.
'Hoà giải và hoà hợp' để quên đi quá khứ đầy đau
buồn của dân tộc Việt Nam. Hoà giải và hoà hợp để cùng
nhau mở ra một trang sử mới cho VN, trang sử của tự do và dân
chủ. Nếu được Quốc hội mới đồng ý thì chúng ta sẽ lấy
Ngày 30 tháng Tư hàng năm làm 'Ngày Hoà Giải Dân Tộc'.
Việt Nam sẽ có một ủy ban đặc biệt đó là "Ủy Ban Hoà
Giải Dân Tộc' để làm trọng tài giải quyết các vấn đề
liên quan đến nhu cầu hoà giải giữa các tầng lớp nhân dân
Việt Nam".
'Hoà giải và hoà hợp dân tộc' không hề có nghĩa là bắt
tay với chế độ cộng sản hay qui phục chế độ cộng sản
mà ngược lại 'Hoà giải dân tộc' là đưa tay ra cho những
người cộng sản Việt Nam còn có lương tâm, để họ cùng
đứng về phía những người dân Việt Nam đang đấu tranh cho
dân chủ và tự do.
Hoà giải và hoà hợp dân tộc không phải là 'Hoà giải và
hoà hợp' với chính quyền cộng sản mà là 'Hoà giải và
hoà hợp' giữa các thành phần dân tộc đã bị quá khứ
đẩy vào thế xung đột, kể cả với những thành phần lương
thiện trong đảng cộng sản, với những người cộng sản mong
muốn Việt Nam có dân chủ và như vậy 'Hoà giải và hoà
hợp' chính là điều kiện cốt lõi để cô lập và đánh
bại tập đoàn độc tài ngoan cố.
Hoà giải và hoà hợp với những thành phần tiến bộ trong
đảng cộng sản để ngày Việt Nam có dân chủ đến nhanh hơn.
Như vậy, đây là một 'sách lược' để giành thắng lợi
trong cuộc cách mạng dân chủ. Và khi đã có dân chủ rồi thì
Hoà giải và hoà hợp dân tộc sẽ trở thành 'giá trị
tinh thần căn bản của mọi chính sách cho nhiều thế hệ tới.
Hoà giải dân tộc để xoá bỏ những hận thù và hiềm khích
của quá khứ để đi đến hoà hợp dân tộc trong cố gắng
xây dựng một tương lai chung'. 'Hoà giải người
Việt Nam với đất nước Việt Nam là điều phải làm để
phục hồi lòng yêu nước, một yếu tố không thể thiếu nếu
chúng ta còn muốn một tương lai cho Việt Nam. Muốn như thế
nhà nước, người đại diện đất nước, phải là một nhà
nước khiêm tốn, hiền hoà. Tổ quốc Việt Nam phải được
cảm nhận như một tình yêu và một dự án tương lai
chung'. 'Vượt lên trên những sôi động nhất thời,
hoà giải và hoà hợp dân tộc cũng là một đoạn tuyệt lịch
sử cần thiết để bẻ gãy cái vòng luẩn quẩn của hận thù
và chia rẽ đã giam hãm chúng ta từ nhiều thế kỷ qua, nhất
là từ nửa thế kỷ nay. Đây là một đoạn tuyệt lịch sử
rất khó khăn vì ý niệm hoà giải dân tộc hoàn toàn thiếu
vắng trong tâm lý chính trị Việt Nam'. 'Hoà giải và
hoà hợp dân tộc là điều kiện cần cho thắng lợi của cuộc
vận động dân chủ hiện nay và cũng là điều kiện cần cho
thành công của cố gắng phục hưng đất nước ngày mai'.
(Dự Án Chính Trị)
Trong tinh thần đó, THDCĐN đã làm được nhiều việc, ví dụ
THDCĐN là tổ chức chính trị duy nhất của người Việt ở
hải ngoại đã nhận được được nhiều cảm tình của các
nhà dân chủ trong nước. THDCĐN cũng đã kết hợp với một
số trí thức trong nước xuất bản bán nguyệt san báo
"Tổ Quốc". THDCĐN cũng là tổ chức đã qui tụ
nhiều thành viên xuất thân từ chế độ cộng sản từ trong
nước cũng như ở Nga và Đông Âu. Một thông điệp khá rõ
ràng của THDCĐN gửi đến người dân Việt Nam qua lập trường
"hoà giải và hoà hợp dân tộc' đó là: chúng tôi là hiện
thân của tương lai, chúng tôi nhìn nhận mọi người Việt Nam
đều là anh em và chúng ta sẽ cùng nhau xây dựng một tương lai
chung, một tương lai mà mọi người Việt Nam đều có thể
chấp nhận được.
Nguyễn Gia Dương trả lời
Đầu tiên, cám ơn bạn đã tán thành ba giá trị căn bản mà
THDCĐN chọn làm nền tảng cho dự án chính trị xây dựng đất
nước. Thật ra, vào thập niên 80 và 90, THDCĐN đã bị chống
phá kịch liệt và cũng đã là nạn nhân của những hành vi thô
bạo chỉ vì chủ trương ba giá trị này.
Ngày hôm nay, hai trong ba giá trị này (Dân chủ Đa nguyên; Bất
bạo động) đã có được đồng thuận căn bản. Phong trào dân
chủ đã giành được thắng lợi tư tưởng nhất định, mặc
dù cuộc đấu tranh đã mất đi 28 năm.
Chỉ còn giá trị thứ ba là chưa đạt được đồng thuận cao:
Hoà giải & Hoà hợp Dân tộc (HG&HH DT). Đây cũng là giá trị
quan trọng nhất cho bài toán Việt Nam. Vì vậy cá nhân tôi rất
tán đồng phương thức cụ thể hoá vấn đề để dứt khoát
giành lấy thắng lợi tư tưởng cuối cùng.
1. HG&HH DT với ai?
Khi đề cập đến cụm từ HG&HH Dân tộc, có lẽ tất cả
chúng ta đã đồng ý đối tượng của hoà giải là người
Việt Nam với người Việt Nam. Chúng ta cần hoà giải người
Việt Nam có tôn giáo khác nhau; người thành thị với người
thôn quê; các sắc tộc người Việt với nhau; người Bắc với
người Trung và với người Nam; người Cộng sản với người
Quốc gia; người sống ở nước ngoài với người trong nước.
Chúng ta cũng cần hoà giải người Việt Nam với đất nước
Việt Nam.
Dân tộc nào cũng cần hoà giải. Nhưng có lẽ dân tộc Việt
Nam có nhu cầu hoà giải hơn cả. Nguyên do là những cuộc nội
chiến khốc liệt đã xảy ra, nhất là cuộc nội chiến vừa
qua.
2. HG&HH DT có những bước nào?
Nếu tôi hiểu rõ câu hỏi, có hai giai đoạn:
1) Trong giai đoạn đấu tranh cho dân chủ, và
2) Sau khi đã có được dân chủ.
Trong cả hai giai đoạn này, mọi tổ chức chính trị lương
thiện và một chính quyền có trách nhiệm phải liên tục và
thành thực tôn trọng giá trị cũng như đưa tinh thần HG&HH DT
vào mọi chủ trương, chính sách và mọi hành động.
3. Hoà giải ra làm sao?
3a. Trong giai đoạn đấu tranh cho dân chủ:
- Một cách cụ thể, chúng ta có thể bắt đầu bằng những
lời lẽ lịch thiệp với nhau. Không nên cường điệu hay khiêu
khích khi bước vào tranh luận. Những thái độ như trên chỉ
mang lại bất bình và bất đồng.
- Ngoài ra, nên dứt khoát từ bỏ bạo lực hay sức mạnh làm
giải pháp cho những tranh chấp, ngay cả khi sức mạnh đó dựa
vào đa số. Đã bao lần, tôi chứng kiến những cuộc họp của
người Việt Nam với những tổ chức ngoại vi của một vài
đảng phái. Họ bỏ phiếu cùng một chiều hướng rồi, nhân
danh đa số, áp đặt đường hướng của họ. Với thời gian,
hành động này đã bị tẩy chay. Nhưng nó cũng để lại nhiều
tỵ hiềm và làm tổn thương cho tinh thần hoà giải và hoà
hợp.
- Song song đó, cũng nên bỏ vào sọt rác cụm từ «bạo lực
cách mạng» cho dù công cuộc dân chủ hoá đất nước là một
cuộc cách mạng vô tiền khoáng hậu tại Việt Nam.
- Cuối cùng, nên khuyến khích và tham gia những hoạt động tuy
âm thầm nhưng có hiệu quả hàn gắn những đổ vỡ của quá
khứ. Những hoạt động từ thiện và liên đới, những sinh
hoạt của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam và, ngay
tại hải ngoại, những cố gắng liên hệ giữa cộng đồng
Việt Nam và du sinh v.v. đều là những công tác cần được
tuyên dương: Chúng gián tiếp góp phần san bằng những thành
kiến, những ngộ nhận và những hố sâu ngăn cách giữa
người Việt Nam.
Ở địa vị của mình, THDCĐN đã thành lập Nghĩa Hội Việt
Nam Tự Do để yểm trợ các anh em dân chủ trong nước. Nghĩa
Hội đã âm thầm giúp đỡ vô điều kiện rất nhiều nhân
vật đã mắc nạn vì dấn thân cho dân chủ. Có lẽ nhờ chủ
trương HG&HH DT và nhờ những hỗ trợ âm thầm này mà phần
đông anh em dân chủ trong nước đã dành cho THDCĐN một tình
cảm đặc biệt.
3b. Một khi đã giành được dân chủ:
Chúng ta cần một chính sách và một bộ luật HG&HH DT.
- Chính sách này sẽ duyệt qua và tuyển chọn những định
hướng lớn của HG&HH DT.
- Bộ luật kia sẽ cố gắng giải thích và khuyến khích những
sinh hoạt nhằm phát huy tinh thần HG&HH DT và sẽ nghiêm cấm
mọi vụ án chính trị. Có nghĩa là, trừ một vài trường hợp
đặc biệt và phải được bộ luật HG&HH DT định nghĩa và
liệt kê rành mạch, nhà nước sẽ tuyệt đối không có quyền
truy tố bất cứ cá nhân nào vì trách nhiệm hay vì chức vụ
họ đã nắm giữ trước đó.
- Nước Việt Nam sẽ là quốc gia mà HG&HH DT sẽ được nâng
lên hàng quốc sách. Cụ thể hơn, khái niệm HG&HH DT sẽ được
đưa vào Hiếp pháp như một giá trị bất khả xâm phạm.
- Ở một Việt Nam dân chủ, chúng ta sẽ nghiêm trị những hành
động, những thái độ, những ngôn ngữ và ngay cả mọi ý
đồ đi ngược lại với tinh thần HG&HH DT. Đồng thời chúng ta
sẽ cố gắng phục hồi danh dự cho những nạn nhân của sự
mù quáng và tệ nạn độc quyền lẽ phải trong quá khứ.
- Một đề nghị cụ thể hơn nữa: Thay vì là ngày chiến
thắng của phiá này, nhưng cũng là ngày quốc hận của phiá
kia, nên chọn ngày 30.04 làm ngày HG&HH DT Việt Nam. Trong ngày
đó, khi ra đường, mọi người nên bắt tay nhau và, nhân danh
sự liên tục của đất nước, chúng ta sẽ nhận và tha lỗi
cho nhau để nhìn nhau như anh em.
4. Cơ quan nào làm trọng tài nếu một bên không chấp
nhận?
Thật ra hoà giải là một thái độ tự nguyện xuất phát từ
đồng tình. Chúng ta có thể chế tài những hành vi chống phá
hoà giải, nhưng không thể cưỡng bức mọi người phải hoà
giải với nhau.
Vì vậy, khó có thể bàn đến việc ai làm trọng tài trong một
tranh chấp khi một bên không chấp nhận hoà giải.
5. Vậy thì… làm sao có thể hoà giải với chính quyền
Cộng Sản và người dân Việt Nam khi Đảng Cộng Sản Việt Nam
là người nắm quyền lực lớn nhất lại không chịu hoà
giải?
- Theo suy nghĩ của tôi, nếu đạt được hoà giải giữa đại
đa số người Việt Nam với nhau thì tự khắc một chính quyền
bắt buộc phải nhập cuộc nếu họ không muốn bị đào thải.
Trong một xã hội, khi một khái niệm đã trở thành một đồng
thuận nền tảng thì không có một thế lực lượng nào (ngay
cả chính quyền) có thể đối chọi lại được. Vì nhu cầu
tự tồn, một chính quyền dù phi lý và ngang ngược đến đâu
đi nữa cũng nhận diện ra ngõ cụt và cố gắng tìm đường
đi ra. Lúc đó «cho ăn kẹo», họ cũng không dám từ chối hoà
giải.
- Ngược lại, nếu không đạt được hoà giải giữa người
Việt Nam thì chính quyền hiện nay vẫn vững như bàn thạch dù
họ đã rất yếu và rất kém. Anh em THDCĐN chúng tôi thường
nói với nhau: «Một chế độ độc tài không sợ người dân
ghét họ mà chỉ sợ người dân thương nhau. Và chính quyền
Việt Nam hiện nay không là ngoại lệ!». Nhưng bước đầu để
mọi người Việt Nam có thể gần gũi và thương yêu nhau là
gì, nếu không là hoà giải và hoà hợp? Xin lấy một thí dụ
rất cụ thể nhưng cũng thật đáng buồn. Cách đây không lâu
đã xảy ra vụ giáo xứ Tam Toà. Một trong những hiện tượng
đáng ghi nhận là việc chính quyền đã huy động được một
nhóm lương dân đến phá rối những sinh hoạt ôn hoà của giáo
dân. Những lương dân này đã vô tình tiếp tay với những
phần tử «đầu gấu» và đã trở thành đồng minh khách quan
của chính quyền. Tại sao lại như vậy? Sự thiếu vắng của
hoà giải giữa lương dân và giáo dân chính là thủ phạm đáng
nguyền rủa. Nhưng nếu còng đầu được tỵ hiềm? Nếu tống
cổ được hận thù ra khỏi đầu óc người Việt Nam? Nếu
chúng ta hoà giải được với nhau? Lúc đó, một chính quyền
thô bạo và ngoan cố nhất cũng không dám mạnh tay đàn áp.
- Cuối cùng, tôi cũng cảm nhận một hiện tượng không ổn
trong tri thức người Việt Nam: Cái gì cũng nhà nước, cái gì
cũng chính quyền. Hình như không có chính quyền thì mọi
người đều bó tay, nhất là khi chính quyền có tiền để dỗ
dành và có nhà tù để răn đe. Luẩn quẩn trong trạng thái này
chỉ đem lại bế tắc khi một chính quyền không chấp nhận
hoà giải.
Chúng ta nên có một nhận thức khác, nhận thức của con
người tự do. Tôi có nhiều bạn đồng nghiệp người Anh,
Đức hay Mỹ. Trái với người Pháp, họ chẳng bao giờ trông
đợi gì ở nhà nước. Họ muốn làm việc gì thì tự tìm cách
tổ chức để thực hiện. Trong trường hợp có mâu thuẫn với
chính quyền, họ cố gắng tạo một liên kết lớn để đương
đầu với chính quyền và bắt chính quyền phải nhượng bộ.
Khi họ có được đồng thuận lớn thì chính quyền thường
chạy theo vuốt ve và hết lời khen ngợi họ. Họ chính là
những con người độc lập và tự lập. Vì vậy họ là những
con người tự do và chẳng bao giờ xin xỏ hay chờ đợi gì ở
chính quyền.
Ngay cả lịch sử đấu tranh giành độc lập của Ấn Độ cũng
cho chúng ta một bài học đáng quý. Tương quan lực lượng lúc
đó rõ ràng là «châu chấu đá xe». Nhưng người Ấn Độ
chẳng xin xỏ và cũng chẳng cần Thực dân Anh ban bố gì. Một
cách ôn hoà, họ cố gắng hoà giải mọi tầng lớp xã hội,
mọi đẳng cấp và mọi tôn giáo để tạo được sức mạnh
và đòi hỏi quyền lợi của người Ấn Độ. Và rồi…
«tưởng đâu chấu ngã, ai ngờ xe nghiêng».
Trở lại với Việt Nam, nếu chúng ta nói được với nhau:
«Mặc kệ chính quyền! Chúng ta cứ tự động và cố gắng hoà
giải với nhau. Rồi sẽ có ngày họ phải chấp nhận và nhập
cuộc, nếu họ không muốn bị dòng thác HG&HH DT cuốn đi».
Đạt được đồng thuận này, có lẽ cuộc vận động cho dân
chủ sẽ có được bước đại nhảy vọt.
Một lời cuối và cũng là lời lạc quan:
- Đa nguyên có nhu cầu dung hoà nhiều ý kiến khác nhau (có khi
đối chọi nhau); và dung hoà thường xuất phát từ thái độ
hoà giải và hoà hợp;
- Bất bạo động đòi hỏi đối thoại vì không thể dùng vũ
khí để loại trừ một ai; và đối thoại cần được tinh
thần hoà giải mở đường, nhất là sau một xung đột.
Nói một cách khác, một khi đã nhìn nhận Đa nguyên và Bất
bạo động như những lập trường đấu tranh thì việc chấp
nhận giá trị Hoà giải và Hoà hợp Dân tộc là một hệ quả
tự nhiên và bắt buộc.
Chúng ta không nên mất quá nhiều thời giờ để đi đến kết
luận này.
Cuộc hội luận cùng Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên: Câu trả lời vòng Hai (1)
Thưa BBT Dân Luận và bạn đọc,
Chúng tôi xin gửi phần thảo luận vòng II của cuộc hội luận
cùng bạn đọc Dân Luận. Để đáp lại mong mỏi của bạn
đọc là được giải toả những thắc mắc còn lại về quan
điểm của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên về công cuộc dân chủ
hoá hiện nay, nhóm thảo luận đã cố gắng trả lời cụ thể
và chân tình.
Mong Trên tinh thần rộng mở và cầu thị, chúng tôi mong rằng
đợt thảo luận lần này sẽ mở rộng hơn cánh cửa đối
thoại giữa bạn đọc Dân Luận và THDCĐN.
Sau đây là phần trả lời của chúng tôi.
Chúng tôi xin gửi phần thảo luận vòng II của cuộc hội luận
cùng bạn đọc Dân Luận. Để đáp lại mong mỏi của bạn
đọc là được giải toả những thắc mắc còn lại về quan
điểm của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên về công cuộc dân chủ
hoá hiện nay, nhóm thảo luận đã cố gắng trả lời cụ thể
và chân tình.
Mong Trên tinh thần rộng mở và cầu thị, chúng tôi mong rằng
đợt thảo luận lần này sẽ mở rộng hơn cánh cửa đối
thoại giữa bạn đọc Dân Luận và THDCĐN.
Sau đây là phần trả lời của chúng tôi.
Cần làm gì trong tình hình hiện nay?
Câu hỏi 1: Quý vị có bao giờ xét lại cách
tổ chức để kiện toàn không? Và khi xét lại như vậy thì có
điểm nào khó khăn và đã giải quyết ra sao, có thể chia sẻ
được không? Khi dựa vào tình cảm để giải quyết các mâu
thuẫn thì quý có vướng mắc vào tình trạng dùng nhiều mẫu
đo khác nhau không? Và khi sử dụng các mẫu đo khác nhau ấy có
đưa đến tình hình mất đoàn kết và phe nhóm không? Có mẫu
đo nào đưa đến tính công thần như đảng cộng sản
không?
Sơn Dương trả lời:
Trước hết xin cám ơn Ban Biên Tập Diễn Đàn Dân Luận đã
tập hợp các câu hỏi nêu lên với Tập Hợp Dân Chủ Đa
Nguyên (THDCĐN), và quý độc giả của Dân Luận đã nêu lên
các câu hỏi rất thực tiễn trao đổi với chúng tôi trong vòng
2 của hội luận. Chúng tôi trân trọng sự đóng góp của quý
anh chị Dân Luận vào nỗ lực nâng cao ý thức chính trị của
độc giả qua một diễn đàn thực sự dân chủ này trong tinh
thần học hỏi và tương kính. Chúng tôi xin cám ơn các bạn
đã đặt những câu hỏi mà chúng tôi xin trả lời với tất
cả sự khiêm tốn. Câu hỏi này số 1 này phần nào đã được
anh Nguyễn Gia Dương trả lời ở vòng 1. Nói chung, phương
thức giải quyết mâu thuẫn của chúng tôi là chủ yếu vận
dụng Qui Ước Sinh Hoạt (QUSH) của THDCĐN. Nếu có thể được,
xin quý anh chị bỏ chút thì giờ vào web Thông Luận
(www.thongluan.org) để biết các chi tiết cụ thể. QUSH qui
định những cơ cấu tổ chức của Tập Hợp và những nguyên
tắc căn bản hướng dẫn cách điều hành tổ chức. Sự tôn
trọng QUSH tự nó cũng là một lý do quan trọng để tránh
những mâu thuẫn.
Bạn hỏi: "Quý vị có bao giờ xét lại cách tổ chức để
kiện toàn không? Và khi xét lại như vậy thì có điểm nào khó
khăn và đã giải quyết ra sao, có thể chia sẻ được
không?"
Câu trả lời dứt khoát là Có và có nhiều. QUSH
đã được tu chỉnh ba lần và chúng tôi cũng luôn luôn cải
tiến cách áp dụng QUSH qua kinh nghiệm thực tiễn. Có thể nói
là THDCĐN đã rất may mắn so với nhiều tổ chức khác ở chỗ
là đã không có những đổ vỡ lớn, nhưng khó khăn trong sinh
hoạt tổ chức thì chắc chắn là phải có. Trong hầu hết mọi
trường hợp mọi mâu thuẫn đều được giải quyết êm đẹp
trong tình anh em tương kính, nhờ sự kiện Tập Hợp có được
một tư tưởng chính trị vừa được mọi thành viên chấp
nhận vừa có tầm nhìn khá dài hạn và do đó không bị bắt
buộc phải làm những xét lại đau nhức. Kiện toàn tổ chức
để lớn mạnh thêm là cố gắng liên tục của mọi tổ chức
có tham vọng đóng góp thay đổi lịch sử. Chúng tôi cũng thế
thôi. Và muốn như thế thì phải không ngừng thích nghi với
thực tại mà không đánh mất chính mình. Một thí dụ về ưu
tư thích nghi với thực tại là điều 39 phần VII, Điều khoản
đặc biệt. Xin trích dẫn:
"39. Trong tương lai, cùng với những bước tiến của tiến
trình dân chủ hóa, khi nhiều phân bộ đã được thành lập
tại trong nước, Qui ước Sinh hoạt sẽ được tu chính để
phù hợp với tình huống mới. Trước đó Qui ước Sinh hoạt
này vẫn còn hiệu lực". Điều này đã được đưa vào
QUSH trong lần tu chỉnh thứ hai năm 1999, nó nhắm mục đích
chuẩn bị cho việc chuyển cơ quan đầu lãnh đạo của Tập
Hợp về trong nước để hải ngoại giữ vai trò yểm trợ khi
tình thế cho phép. Chúng tôi tin rằng những thích nghi được
dự trù trước sẽ không đau nhức bằng những thích nghi đột
ngột. Phương châm của THDCĐN được ghi ngay trong lời mở
đầu của QUSH:
"THDCĐN tôn trọng nhân cách và quyền tự do suy nghĩ
và phát biểu của các thành viên. Gia nhập Tập Hợp không
giới hạn quyền phát biểu mà còn cho phép các thành viên có
thêm tự tin để phát biểu mạnh dạn hơn ý kiến của mình.
Tập Hợp không chấp nhận kiểm duyệt ý kiến. Trong Tập Hợp
không có những ý kiến cấm nêu ra và cũng không có những đề
tài cấm bàn đến. Không một thành viên nào có thể bị khiển
trách vì những ý kiến của mình và cũng không một thành viên
nào có thể bị ngăn trở phát biểu ý kiến của
mình".
Như thế, các ý kiến cải cách, kiện toàn, thay đổi, bổ
khuyết phương thức sinh hoạt diễn ra một cách liên tục,
tránh cho tổ chức những thay đổi đột ngột, một trong những
nguyên nhân chính của mâu thuẫn nội bộ.
Tôi xin chia sẻ một thông tin nói lên nhiều về THDCĐN: trong
gần 30 năm sinh hoạt Tập Hợp đã chỉ một lần phải khai
trừ một thành viên. Có những thành viên đã ra đi nhưng đại
đa số vì hoàn cảnh cá nhân và đã ra đi trong sự thân thiện
để Tập Hợp tiếp tục phát triển. Một điểm cũng cần
được nhấn mạnh là triết lý đa nguyên mà Tâp Hợp coi là
nền tảng tư tưởng, theo đó "nguyên tắc thiểu số phục
tùng đa số không được sử dụng một cách tự động và máy
móc mà chỉ được dùng tới sau khi đã tận dụng mọi cố
gắng để tìm đồng thuận. (...) Sự chính đáng của một
chính quyền còn nằm trong sự thành khẩn tìm đồng thuận trong
mọi quyết định quan trọng" (Dự Án Chính Trị Dân Chủ
Đa Nguyên, trang 34). Nhờ tinh thần này không chí hữu nào trong
Tập Hợp có cảm nghĩ mình bị cô lập. Bạn hỏi có gì có
thể chia sẻ được không? Nếu có một điều mà tôi muốn chia
sẻ với các bạn, đặc biệt là với các bạn có may mắn còn
trẻ hơn tôi, sau kinh nghiệm sinh hoạt hội đoàn và trong THDCĐN
thì đó là con người Việt Nam chúng ta phức tạp và gai góc
lắm chứ không bình thường đâu. Chúng ta rất thiếu khả năng
sinh hoạt tổ chức; đó là nguyên nhân chính khiến các tổ
chức dân chủ, kể cả THDCĐN, không mạnh lên được như ý
muốn và như đòi hỏi của đất nước. Mỗi người chúng ta
đều phải cảnh giác với chính mình.
Bạn cũng hỏi: Khi dựa vào tình cảm để giải quyết các
mâu thuẫn thì quý có vướng mắc vào tình trạng dùng nhiều
mẫu đo khác nhau không? Và khi sử dụng các mẫu đo khác nhau
ấy có đưa đến tình hình mất đoàn kết và phe nhóm không?
Có mẫu đo nào đưa đến tính công thần như đảng cộng sản
không? Tôi có thể quả quyết với bạn là
KHÔNG. Tình cảm ở đây không dành riêng cho một
ai mà là sự quý mến dành cho mọi người vì thế không có
những mẫu đo khác nhau. Một tục lệ bất thành văn là mỗi
khi bắt đầu cũng như chấm dứt một buổi họp mặt chúng tôi
đều nắm tay nhau và cùng nói "chúng ta vừa là chí hữu
vừa là anh em!". Chúng tôi coi tình chí hữu là quan trọng
nhất. Còn về tâm lý thâm niên, công thần thì nó bị cấm ngay
trong nội qui vì điều 3 QUSH nói rất rõ: "Tập Hợp Dân
Chủ Đa Nguyên mở cửa cho mọi người lương thiện chấp nhận
lý tưởng chung. Các thành viên đều bình đẳng với nhau, không
phân biệt sắc tộc, thành phần xã hội, tôn giáo, quá khứ
chính trị, tuổi tác, kiến thức, nam nữ, thâm niên trong tổ
chức."
Nhân tiện tôi cũng xin chia sẻ với bạn lý do của điều
khoản chống thâm niên này. Đó là vì chúng tôi tin rằng trong
một tương lai không xa sẽ có nhiều chí hữu từ các tổ chức
khác đến với Tập Hợp, kể cả những người mà mới hôm qua
còn là đảng viên đảng cộng sản. Những chí hữu đó cũng
phải được bảo đảm khả năng được bầu vào mọi vai trò
lãnh đạo, kể cả vào chức vụ lãnh đạo cao nhất là
Thường Trực Ban Lãnh Đạo. Với sự khiêm tốn của nó, THDCĐN
mời gọi sự tham gia của mọi người quan tâm đến đất
nước và chia sẻ đồng thuận được ghi ngay trong điều 1,
phần I, Điều Khoản Căn Bản của QUSH của THDCĐN: "đấu
tranh xây dựng cho Việt Nam, trong tinh thần hoà giải và hoà
hợp dân tộc, bằng những phương tiện bất bạo động, một
thể chế dân chủ đa nguyên đặt nền tảng trên xã hội dân
sự."
Câu hỏi 2: THDCĐN đã có Dự Án Chính Trị
Dân Chủ Đa Nguyên và thành viên có mặt trên khắp châu lục
và trong nước. Như vậy có thể coi
THDCĐN đã hoàn thành hai vấn đề quan trọng nhất là "xây
dựng cơ sở tư tưởng" và "hình thành đội ngũ cán bộ nòng
cốt" hay chưa? Thời điểm "tấn công dành chính quyền"
có thể chưa chín muồi, nhưng cũng không còn sớm để "xây
dựng và kiểm điểm phương tiện", cũng như "xây dựng cơ sở
quần chúng". Nếu THDCĐN chủ trương
không theo đuổi các hoạt động gây tiếng vang, thì bằng cách
nào THDCĐN có thể khiến quần chúng biết đến mình?
Tổ chức chính trị mạnh không nhất thiết phải đông
thành viên, nhưng cũng phải được nhiều người biết đến,
có ảnh hưởng sâu rộng đến các tầng lớp nhạy cảm như
trí thức và học sinh, sinh viên, phải có uy tín trên trường
quốc tế v.v... Vậy THDCĐN dự tính sẽ làm gì để trở thành
một tổ chức mạnh theo nghĩa nói trên?
Sơn Dương trả lời:
Cảm ơn sự đánh giá của bạn nhưng xin nói thực là THDCĐN
chưa mạnh. THDCĐN có tư tưởng chính trị và cũng có đội
ngũ, nhưng chưa đủ. Như bạn đã biết chúng tôi quan niệm
cuộc cách mạng dân chủ sẽ phải qua năm giai đoạn:
- Xây dựng một cơ sở tư tưởng,
- Xây dựng một đội ngũ cán bộ nồng cốt,
- Xây dựng và kiểm điểm phương tiện,
- Xây dựng cơ sở quần chúng,
- Tiến công giành chính quyền,
Trong năm bước đó có thể nói là tuy bước đầu (xây dựng
cơ sở tư tưởng) không bao giờ hoàn tất cả - vì một lý do
giản dị là một chính đảng đứng đắn luôn luôn phải cải
tiến tư tưởng chính trị của mình- nhưng có thể nói là đã
tạm xong. Bước thứ hai (xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt)
còn rất khiêm tốn so với nhu cầu. Nếu giả sử lịch sử sang
trang ngay trong lúc này thì có thể là THDCĐN có chuẩn bị hơn
các tổ khác nhưng cũng vẫn còn ở xa mức độ sẵn sàng. Tuy
nhiên, như chúng tôi đã nhận định trong Dự Án Chính Trị
Thành Công Thế Kỷ 21 "Năm giai đoạn phải đi theo thứ
tự nhưng không nhất thiết là giai đoạn trước phải hoàn
tất giai đoạn kế tiếp mới bắt đầu. Các giai đoạn gối
đầu lên nhau" cho nên Tập Hợp cũng đã bắt đầu hai giai
đoạn thứ ba và thứ tư, dù là một cách giới hạn. Trên
điểm này chúng ta đồng ý.
THDCĐN không chủ trương các hoạt động nhắm gây "tiếng
vang". Tiếng vang không có chỗ đứng trong THDCĐN. Vả
chăng "tiếng vang" là gì? Phải chăng là những hoạt
động bạo lực giả tưởng và vô vọng như lập chiến khu,
tung lựu đạn vào một tòa đại sứ? Hoặc rải vài trăm tờ
truyền đơn chỉ có tác dụng tạo lý cớ cho chính quyền
cộng sản gia tăng đàn áp? Hay ra những bản tuyên cáo, tuyên
ngôn mau chóng chìm vào quên lãng? Chúng tôi không tin là những
hành động đó có lợi cho cuộc vận động dân chủ. Tuy nhiên,
như bạn đã nói rất đúng, muốn có sức mạnh và hậu thuẫn
thì điều kiện cần là phải được nhiều người biết đến.
Chúng tôi muốn được biết đến một cách trung thực, trước
hết là biết đến lập trường chính trị của chúng tôi, qua
Web Thông Luận, báo Thông Luận, báo điện tử Tổ Quốc
mà chúng tôi cộng tác với những người dân chủ trong nước
để phát hành. Tôi cũng xin nhân cơ hội này lưu ý là bán
nguyệt san Tổ Quốc là tờ báo đối lập duy nhất
hiện diện một cách không giấu giếm ở trong nước. Ngoài ra
chúng tôi cũng vận dụng nhiều cơ quan truyền thông độc lập
khác, các Web, Blog cũng như các báo giấy để phổ biến lập
trường của Tập Hợp. Chúng tôi đang thử nghiệm mạng xã
hội Facebook.
Qua những phương tiện truyền thông này chúng tôi vận động
cho một thay đổi văn hóa và tâm lý cần thiết để đất
nước chuyển hoá về dân chủ. Chúng tôi tin rằng uy tín là
vốn quí nhất và cũng là phương tiện quan trọng nhất của
một tổ chức chính trị. Nhưng uy tín là điều vừa khó có
được lại vừa khó giữ, những cố gắng gây tiếng vang để
tạo uy tín giả tạo thường rất phản tác dụng. Phương pháp
của chúng tôi là tranh thủ cảm tình của giới trí thức và
qua họ, như một đai truyền, tranh thủ cảm tình của quần
chúng. Niềm tin của chúng tôi là nếu tranh thủ được sự
đồng tình của trí thức cho một dự án chính trị đúng đắn
thì khi cần sẽ có hậu thuẫn quần chúng. Kết quả chậm
nhưng chắc chắn. Chúng tôi không mất kiên nhẫn vì hậu thuẫn
của quần chúng thường là hiện tượng bộc phát đột ngột
sau những cố gắng kiên trì tích lũy từ nhiều năm. Hoạt
động chính trị là hò hẹn với tương lai, một tương lai mà
chính mình cũng đã đóng góp tạo ra. Điều cốt lõi là vào
ngày N, giờ G mình chứng tỏ là đã đóng góp tạo ra biến
cố, đã chuẩn bị để chờ đợi biến cố và nhất là có
những giải đáp đúng đắn cho bài toán dân chủ hóa. Hãy nhìn
những gì vừa và đang xảy ra ở Bắc Phi và Trung Đông. Nếu
những nước này có những tổ chức dân chủ đã có mặt từ
lâu với một tư tưởng chính trị và một dự án chính trị
phù hợp thì chắc chắc họ không bối rối như hiện nay. Chúng
tôi tin rằng vận hội lịch sử sẽ đến và chúng tôi cố
gắng chuẩn bị để tránh cho đất nước những khó khăn đang
được phơi bày tại Tunisia, Ai Cập, Libya, Yemen. Sau cùng, một
cách kín đáo, chúng tôi cũng có tiếp xúc với nhiều tổ chức
và nhân vật chính trị, để học hỏi kinh nghiệm ở họ và
cũng để giúp họ hiểu biết hơn về Việt Nam. Có thể nói là
kết quả rất khả quan.
Việt Nam đang ở đâu trong tiến trình dân chủ hóa?
Câu hỏi 3: Tôi vẫn chưa hoàn toàn thỏa mãn
với lộ trình dân chủ hóa mà THDCĐN trình bày trong phần trả
lời của vòng Một. Tới thời điểm này, câu hỏi "ai thắng ai
trên phương diện tư tưởng và lý luận" đã được trả lời
rõ ràng rồi, vậy có thể nói tiến trình dân chủ đã bước
sang giai đoạn 3, "phát động mạnh mẽ cuộc tranh đấu đòi
dân chủ trong nước", hay không? Thế nhưng, khi trả lời câu
hỏi số 4, quý vị lại cho rằng vẫn chưa đủ điều kiện
để thực hiện cách mạng dân chủ tại Việt Nam. Như vậy
phải chăng trong lộ trình kia còn điều gì chưa được đề
cập đến?
Trình tự của lộ trình cũng khá lộn xộn. Ví dụ giai
đoạn 5, "xúc tiến sự hình thành một mặt trận dân chủ",
nên chăng phải tiến hành trước việc "phát động mạnh mẽ
công cuộc đấu tranh dân chủ trong nước", bởi việc hình
thành một mặt trận như vậy sẽ là hậu thuẫn cho việc thúc
đẩy mạnh mẽ công cuộc đấu tranh dân chủ trong nước. Nếu
hình thành mặt trận sau khi thúc đẩy mạnh mẽ đấu tranh trong
nước thì mặt trận đó được tạo ra chỉ để chia phần hay
sao?
Tôi muốn tiếp tục được nghe quý vị giải thích quan
điểm của mình về lộ trình dân chủ ở Việt Nam, hiện tại
Việt Nam đang ở đâu trong lộ trình đó. Một lộ trình khách
quan và mang tính quy luật phải chỉ ra được đâu là rào cản
khiến xã hội chưa có dân chủ, đồng thời phải chỉ ra
những bước đi cần thiết để loại bỏ từng bước các rào
cản đó.
Đoàn Xuân Kiên trả lời:
1. Một vài đính chính:
Có lẽ đã có sự hiểu lầm do lẫn lộn các giai đoạn trong
lộ trình vận động dân chủ và các công tác trọng điểm
của cuộc đấu tranh, từ đó bạn có cảm giác lộ trình mà
THDCĐN đề nghị là "lộn xộn". Trong Dự Án Chính Trị Thành
Công Thế Kỷ21 chúng tôi đã trình bày năm giai đoạn của
cuộc cách mạng dân chủ như sau:
Đó là những giai đoạn, nhưng nội dung của cuộc đấu tranh
cho dân chủ, nghĩa là những công tác trọng tâm, là gì? Theo
chúng tôi đó là:
- Thức tỉnh quần chúng về sự cần thiết của một
giải pháp chung cho cả dân tộc; - Giành thắng lợi dứt khoát về mặt tư tưởng và lý luận;
- Phát động mạnh mẽ cuộc tranh đấu đòi dân chủ trong
nước; - Nâng cao tinh thần và hiệu năng của những cố gắng vận
động sự yểm trợ của thế giới; - Xúc tiến sự hình thành của một mặt trận dân chủ;
- Mục tiêu chính: bầu cử tự do.
Trước đó chúng tôi chúng tôi cũng đã phân tích bốn điều
cần và đủ để một cuộc cách mạng thành công:
- Mọi người trong nước đồng ý rằng chế độ hiện
hữu là tệ hại và phải thay đổi; - Đảng cầm quyền, vì mất lý tưởng chung đã ung thối, chia
rẽ, phân hóa và đã mất bản năng tự tồn của một đoàn
thể; - Đại đa số quần chúng đạt tới đồng tình về một
chế độ mới và những mục tiêu quốc gia mới; - Có một tập hợp chính trị xuất hiện phù hợp với
nguyện ước của toàn dân làm điểm hội tụ cho những khát
vọng đổi mới.
Sự nhận định các điều kiện cần và đủ cho thắng lợi là
để biết mức độ chín muồi của đất nước đối cho cuộc
đổi đời. Một cách cụ thể khi THDCĐN ra đời cuối năm 1982
cuộc cách mạng dân chủ mới chỉ có điều kiện thứ nhất,
ngày nay chúng ta đã có ba điều kiện đầu và cũng đã có
một phần của điều kiện thứ tư, nghĩa là xây dựng lực
lượng dân chủ. Sự xây dựng này muốn thành công phải đi qua
năm giai đoạn của lộ trình đấu tranh. THDCĐN tự coi là đã
tạm hoàn tất giai đoạn một, đã đi được một đoạn
đường đáng kể trong giai đoạn hai và cũng đã bắt đầu, dù
ở mức độ giới hạn, các giai đoan ba và bốn. Nhưng phân
tích các điều kiện thành công và các đoạn đường phải đi
qua tuy cần nhưng chưa đủ, còn phải trả lời câu hỏi cụ
thể "làm gì?", nói cách khác vạch ra những công tác trọng tâm
của cuộc đấu tranh. Sự nhận định các giai đoạn của lộ
trình dân chủ hóa giúp ta biết ở mỗi thời điểm nên tập
trung cố gắng vào công tác nào, những công tác nào chưa cần
phải đầu tư sức lực. Có những công tác lúc nào cũng đòi
hỏi một cố gắng quyết liệt, thí dụ như công tác thức
tỉnh quần chúng về sự cần thiết của một giải pháp chung
cho cả dân tộc thay vì luồn lách cố tìm giải pháp cá nhân
cho riêng mình; đây là điều vẫn còn đầy khó khăn vì trở
ngại là cả một di sản văn hóa. Công tác thứ hai, giành
thắng lợi dứt khoát về mặt tư tưởng và lý luận, cũng
cần xúc tiến ngay từ đầu và tiếp tục tăng cường dù đã
đặt kết quả nhất định. Cũng có những công tác mà ở
thời điểm này chỉ cần chuẩn bị để đẩy mạnh vào giai
đoạn sau như hình thành của một mặt trận dân chủ.
Sau giải thích này có lẽ bạn không còn thấy là lộ trình
đấu tranh cho dân chủ của chúng tôi lộn xộn nữa, nhưng câu
hỏi của bạn đã là dịp để chúng tôi có dịp trình bày
lại đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải đấu tranh có
phương pháp nếu muốn thành công. Cần lắm. Nếu quan sát bạn
có thể thấy là vẫn có nhiều người hành động như thể là
một tổ chức có thể được thành lập mà không cần tư
tưởng chính trị và dự án chính trị trong khi một tổ chức
chính trị đúng nghĩa phải được quan niệm như là dụng cụ
để thể hiện một tư tưởng chính trị và thực hiện một
dự án chính trị. Và cũng có nhiều người và tổ chức nghĩ
rằng có thể vận động quần chúng nổi dậy mà không cần
những chuẩn bị cần thiết.
2. Lộ trình dân chủ trong mối tương quan với Dự Án Chính
Trị Dân Chủ Đa Nguyên?
Như đã trả lời trong vòng đầu, một "lộ trình dân chủ"
đã được phác họa khá chi tiết trong Phần VI của Dự Án
Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên. Ba bộ phận nói trên cần được
nhìn nhận như một tổng thể trong tiến trình dân chủ hoá
nước nhà, hoặc nói như bạn đọc Dân Luận là một "lộ
trình dân chủ" cho Việt Nam tương lai.
Nói cho chính xác thì "Lộ trình dân chủ" của cuộc cách
mạng dân chủ Việt Nam ghi trong Phần VI chủ yếu là dành lực
lượng dân chủ Việt Nam bao gồm những cán bộ nòng cốt cũng
như các cơ sở quần chúng. Chương trình hành động này là
bước tiếp theo phải đến để hoàn thành con đường nhận
thức của họ mà thôi: hiểu biết để hành động.
Cũng xin nói cho rõ thêm là trong Dự Án Chính Trị Dân Chủ Đa
Nguyên không có cụm từ "lộ trình dân chủ" theo nghĩa là
một bản đồ chỉ đường toàn bộ cho một cuộc chuyển hoá
thành công về dân chủ cho đất nước. Theo nghĩa này thì
điều mà bạn đọc Dân Luận gọi là "lộ trình dân chủ"
chính là toàn bộ Dự Án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên. Những
phần đầu của dự án đã trả lời đủ về những nguyên do
có tính tất yếu, có tính "quy luật" về một cuộc cách
mạng dân chủ cho Việt Nam. Do vậy, xin bạn đọc miễn cho
việc nói thêm về những điều như thế trong phần thảo luận
lần này.
3. Việt Nam đang ở đâu trong tiến trình dân chủ hoá?
Trở lại câu hỏi của bạn đọc: Việt Nam hiện nay đang ở
đâu trong tiến trình dân chủ hoá? Xin mời bạn đọc trở lại
câu trả lời đã có sẵn trong Dự Án Chính Trị Dân Chủ Đa
Nguyên hiện hành:
"Có thể nói chúng ta đã đi được ba phần tư lộ trình
dẫn đến dân chủ, nhưng đoạn đường còn lại, xây dựng
một tập hợp chính trị làm tụ điểm cho khát vọng dân chủ,
cũng là đoạn đường cam go nhất bởi vì chúng ta gặp phải
một liên minh gắn bó giữa, một bên, là chính sách đàn áp
thô bạo của một đảng cầm quyền cực kỳ lì lợm và, bên
khác, là sự thụ động của một dân tộc đã rã hàng sau quá
nhiều thất vọng và thương tổn".
Khi xét đến vị trí của đất nước ta trong tiến trình năm
giai đoạn của cách mạng dân chủ, Dự Án Chính Trị Dân Chủ
Đa Nguyên nhìn nhận rằng:
"Nhận định của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên là cuộc
vận động dân chủ hiện nay mới chỉ ở giữa giai đoạn thứ
nhất và bước đầu của giai đoạn thứ hai. Nhưng không phải
vì thế mà có thể kết luận bi quan rằng thắng lợi của dân
chủ còn xa".
Thực tế là đất nước hoà bình đã hơn hai mươi năm. Hai
mươi năm sau thế chiến II đủ dài để nước Nhật vươn lên
từ đổ nát thành cường quốc kinh tế. Hai mươi năm cũng đủ
cho một Nam Hàn vươn lên từ một quốc gia nghèo nàn để trở
thành một cường quốc kinh tế khác. Trong khi đó Việt Nam
hiện còn đang vướng mắc trong bài toán lớn về phát triển,
chỉ vì những trở lực nằm chính ngay trong cơ chế chính trị
và xã hội của nước mình. Mặc dù đã đạt được một số
thành tựu về kinh tế, nói chung việc quản lí tồi dở đã
khiến cho bài toán phát triển đất nước không có nhiều dấu
hiệu lạc quan. Vị trí của nước ta trong cộng đồng thế
giới vẫn là một vị trí quá khiêm tốn ở cuối các bảng
sắp hạng.
Công cuộc chuyển hoá dân chủ như được đề nghị trong
DACTDCĐN là một cuộc thay đổi không chỉ về tổ chức chính
quyền mà thực chất nó còn là một cuộc thay đổi triệt để
về văn hoá. Cuộc cách mạng dân chủ mà THDCĐN theo đuổi
chính là một dự án lớn mà chúng tôi đề nghị để thiết
lập một nền móng khác vững chắc cho một kỉ nguyên mới cho
đất nước: kỉ nguyên dân chủ thực sự, trong đó xã hội
chúng ta sẽ được thiết lập theo một cơ chế khác khả dĩ
tạo được những bước nhảy lớn về phát triển. Tuy thế,
THDCĐN không chủ trương chọn lựa con đường tắt nào để
mong đạt thằng lợi cho cách mạng dân chủ. Như đã nói trong
một lần trước, cách mạng xảy non sẽ chỉ kéo dài thêm nữa
những đổ vỡ cho đất nước và dân tộc. Sự chân thực và
kiên quyết giữ vững lí tưởng chính là xuất phát từ nhận
thức sáng tỏ về "lộ trình dân chủ" tuy gian khó nhưng
tất thắng. Chúng tôi muốn được chia sẻ niềm lạc quan cách
mạng đó cùng bạn đọc Dân Luận.
(còn tiếp)
Nhàn đàm về "chính trị xin lỗi"
Bùi Công Tự -

Norio Tsuzumi, phó giám đốc Công ty điện lực Tokyo
(TEPCO) - điều hành nhà máy hạt nhân đang gặp nạn ở Nhật
Bản - và các nhân viên cúi đầu để xin lỗi những người sơ
tán tại một trung tâm ở Koriyama, tỉnh Fukushima. Ảnh:
AFP.
Các bạn thường nghe nói về "văn hóa xin lỗi". Tôi bỗng liên
tưởng có "văn hóa xin lỗi" thì cũng có thể có "chính trị xin
lỗi" chứ nhỉ? Vậy thì chúng ta thử bàn xem sao? Nhưng mà xin
các bạn ghi nhận cho, khái niệm "chính trị xin lỗi" là sáng
tạo của tôi đấy nhé!
Cùng với hai tiếng "cảm ơn", hai tiếng "xin lỗi" có tần số
xuất hiện ngày càng phổ biến trong ngôn ngữ loài người.
Sống trên đời ai tránh được những sơ xuất, sai lầm, có khi
là tội lỗi. Điều đó khi xảy ra đã gây những tác hại,
tổn thương cho người khác. Người có lỗi nếu nhận thức
được sai lầm thường phải nói lời xin lỗi và sau đó sửa
chữa lỗi lầm bằng việc làm. Người được xin lỗi bằng
sự rộng lượng, chia sẻ, sẵn sàng bỏ qua, quên đi điều
đáng tiếc đã xảy ra.
Có điều hai tiếng xin lỗi đơn giản thế mà nhiều người
không sao nói ra được. Lại có người chỉ vì không nhận
được lời xin lỗi mà bức xúc, hậm hực, bất hòa, có khi
đến xuất huyết não. Cũng mừng là trong xã hội những người
biết nói lời xin lỗi là số đông vì con người biết hướng
thiện. Hai tiếng "xin lỗi" đã trở thành gạch nối giữa con
người với con người. Xin lỗi ngày nay đã trở thành nội dung
của nếp sống văn hóa, có khi còn là nguyên tắc không thể
thiếu trong hoạt động của các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức
xã hội.
Như trên đã nói, người ta cần phải xin lỗi khi để xảy ra
điều không hay cho người khác, khi không hoàn thành công việc
được giao hoặc khi cư xử không đúng với cương vị, bổn
phận của mình. Cũng có khi người ta "xin lỗi" khi lỗi đó do
người thân hoặc do cấp dưới gây ra mà họ là người liên
đới chịu trách nhiệm như con dại cái mang.
Vậy những người biết xin lỗi có đặc điểm gì?
Đó là những người khiêm nhường, biết mình biết người và
trước hết là biết tôn trọng người khác. Đó cũng là
người đã thành khẩn nhận thức sai lầm, thiếu sót của
mình, do đó biết sửa chữa để tiến bộ. Người biết xin
lỗi còn thể hiện là người khôn ngoan, tế nhị, lịch sự,
không chấp vặt. Họ cũng hiểu ra rằng không vì một lời xin
lỗi mà mất sĩ diện, mà hạ thấp mình, mà thua thiệt. Chính
vì thế những người biết xin lỗi, dù đã mắc lỗi, vẫn
được yêu mến, kính trọng, gần gũi.
Trong xã hội ta ngày nay, ông bà cha mẹ xin lỗi con cháu, cấp
trên xin lỗi cấp dưới, thầy cô giáo xin lỗi học trò, chủ
nhà xin lỗi osin v..v đã là điều bình thường. Tuy vậy trong
khi có cháu bé 3 tuổi biết nói lời xin lỗi thì vẫn còn
nhiều người lớn không làm được điều này.
Vậy ai là người không biết nói lời xin lỗi?
Trong giai cấp cầm quyền, những kẻ vua chúa tham tàn cường
bạo không bao giờ biết nói lời xin lỗi. Tương tự là các
chế độ độc tài ức hiếp nhân dân, coi nhân dân như cỏ
rác.
Trong nhân quần thì những người thiểu năng trí tuệ, những
người không được học hành hoặc những người quá ít giao
tiếp xã hội thường cũng chưa có được văn hóa xin lỗi.
Còn trong xã hội gọi là có văn hóa nói chung, những người
không biết xin lỗi là những người hèn nhát, sợ trách nhiệm.
Đáng buồn là những người này thường có học vị bằng cấp
đầy mình, có cương vị xã hội cao, có danh tiếng hoặc là
người của công chúng. Vì họ là những người "đáng kính"
như vậy nên sai lầm, tội lỗi của họ thường có tác hại
lớn cho xã hội. Họ không thể mở miệng nói lời xin lỗi
không phải vì họ ngô ngọng. Trái lại họ là những người
miệng có gang có thép, quát ra lửa. Họ không xin lỗi, không
phải họ không nhận thức được sai lầm nhưng vì họ sợ
nhận lỗi sẽ mất chức mất quyền mất lợi lộc. Họ trốn
tránh trách nhiệm, cả vú lấp miệng em, cãi chày cãi cối, có
khi ngậm máu phun người. Họ có thể trốn tránh được kỉ
luật và pháp luật nhưng không thể trốn tránh búa rìu dư
luận.
Trở lại khái niệm "chính trị xin lỗi" mà tôi nêu ở trên.
Nếu nói theo kiểu toán học thì văn hóa xin lỗi là tập hợp
mẹ còn chính trị xin lỗi là tập hợp con. Khái niệm "chính
trị xin lỗi" có phạm vi hẹp hơn "văn hóa xin lỗi". Theo quan
niệm của tôi, chính trị phải phát triển đến trình độ
nhân văn cao thì mới là chính trị văn hóa. Nhưng ở đời
thông thường chính trị lại không coi văn hóa là gì. Chính
trị cai quản, chi phối tất cả. Vì thế "chính trị xin lỗi"
rất đáng bàn.
Ta có thể đặt vấn đề cách khác là "chính khách và xin
lỗi".
Chính khách là những người tham gia guồng máy cầm quyền.
Giới chính khách cũng bao gồm những người biết xin lỗi và
những người không biết xin lỗi.
Chính khách biết xin lỗi là những nhà chính trị sáng suốt,
kính trọng nhân dân, khiêm tốn, khôn ngoan, nhận thức được
rõ những sai lầm thiếu sót của mình. Mỗi khi mắc sai lầm
họ sẵn sàng nhận khuyết điểm và xin lỗi nhân dân. Và họ
sửa chữa bằng những việc làm cụ thể, hoặc sẵn sàng từ
chức vì những lỗi lầm của mình. Họ đặt quyền lợi của
nhân dân, của dân tộc lên trên quyền lợi của bản thân, gia
đình và đảng phái.
Xem truyền hình chúng ta chứng kiến thủ tướng Nhật Bản
thường xuyên xin lỗi nhân dân Nhật. Ngài thủ tướng đứng
nghiêm, cúi rạp người, khôn mặt nghiêm trang, nói lời xin lỗi
một cách rất chân thành. Đó là khi chính phủ Nhật có một
báo cáo tài chính thiếu chính xác hoặc khi không rời được
căn cứ quân sự Mỹ khỏi Okinawa. Có khi ta thấy ngài thủ
tướng Nhật xin lỗi nhân dân cả khi một bộ trưởng ngủ
gật mà báo chí đưa tin. Thủ tướng nước Nhật cũng rất hay
từ chức vì ý thức được trách nhiệm của mình trước tổ
quốc và nhân dân họ.
Ngài thủ tướng Ôn Gia Bảo của nước láng giềng Trung Quốc
thì bay từ Bắc Kinh đến Quảng Châu, cầm chiếc loa tay đứng
giữa trời băng giá xin lỗi dân chúng vì bão tuyết khiến hàng
trăm ngàn người không về được quê ăn tết. Các chính khách
Hàn Quốc cũng là những người sẵn sàng nhận lỗi trước
nhân dân. Cựu tổng thống Rol Mao Hyun đã cúi đầu xin lỗi
nhân dân Hàn khi có những nghi ngờ người trong gia đình ông
liên quan đến một vụ tham nhũng. Rồi cũng vì chuyện đó ông
đã nhảy núi tự vẫn để chứng tỏ sự trong sạch của mình.
Ở cấp thấp hơn ngài bộ trưởng ngoại giao Hàn Quốc Myung
Hwan cũng công khai xin lỗi nhân dân và xin từ chức vì có cáo
buộc đã tuyển dụng con gái ông cho một vị trí được trả
lương cao của bộ ngoại giao.
Thông tin về văn hóa xin lỗi của các chính khách các nước
láng giềng tôi đọc được trên báo. Còn các chính khách
nước ta chắc cũng là những người biết xin lỗi nhưng có lẽ
vì chính phủ ta ít sai lầm, nên không có việc phải xin lỗi
nhân dân.
Thưa bạn đọc, mặc dù các chính khách đều là những người
có học vị cao song rất lạ là vẫn có nhiều chính khách không
hề biết xin lỗi, dù họ mắc rất nhiều sai lầm.
Vậy chính khách không biết xin lỗi là người thế nào ? Có
thể nói vắn tắt, dù không phải là vua chúa cường quyền tàn
bạo, họ vẫn là người đứng trên đầu nhân dân. Họ không
xin lỗi ai bởi đơn giản họ coi khinh tất cả, họ bao giờ
cũng đúng. Họ có sai cũng chẳng làm sao, không ai làm gì
được họ. Quyền lực làm họ trở thành kẻ mù quáng, kẻ vô
ơn nhân dân. Vì thế họ sẽ tiếp tục lao từ sai lầm này
đến sai lầm khác. Đến một lúc nào đó nhất định họ sẽ
bị đào thải, dù họ ở châu Á hay châu Âu, châu Phi hay châu
Mỹ.
Tôi xin kết thúc bài viết này bằng một ý chưa kịp nói ở
trên. Đó là cái tâm của người xin lỗi. Văn hóa xin lỗi đòi
hỏi người xin lỗi phải xin lỗi một cách thật sự, từ gan
ruột, từ trái tim mình. Chứ không phải xin lỗi cho qua chuyện,
xin lỗi một cách giả trá, lừa bịp.
Cuối cùng tôi xin chân thành xin lỗi bạn đọc nếu bài viết
này không làm hài lòng bạn.
TP Hồ Chí Minh, 24/03/2011.
[*] Bài viết do tác giả gửi trực tiếp cho Nguyễn Xuân
Diện-Blog. Xin chân thành cảm ơn!
___________________________
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã để lại một hình ảnh
khá... ấn tượng khi ngả người nhịp tay trước quốc hội.
Còn Chánh tòa tối cao Trương Hòa Bình thì để lại một câu
nói ấn tượng không thua kém câu nói nổi tiếng trước đây
của cựu Chánh tòa tối cao Trịnh Hồng Dương.
Tối qua, Thủ tướng Nhật
Naoto Kan lại một lần nữa cúi đầu xin lỗi dân. Có thể bạn
ấn tượng với hình ảnh cúi đầu của người Nhật.
Có thể nhiều người nhiều trang quá sa đà vào
"đời cô Lượm" và chị nhà báo tên Ngân trong chương trình
"người xây tổ ấm".
Còn với tôi, ấn tượng nhất, khó quên nhất và...
cộm mắt nhất chính là hình ảnh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
ngồi ngả người đưa hai bàn tay nhịp trên mặt bàn trong phiên
họp cuối quốc hội khóa XII, trong lúc Phó Thủ tướng Nguyễn
Sinh Hùng đang đứng trên bục đọc quyết định kỷ luật của
Bộ Chính trị xem xét trách nhiệm Thủ tướng và các thành
viên chính phủ trong vụ Vinashin với hình thức: không kỷ luật
ai!
[video:http://www.youtube.com/watch?v=XdhaL0BU_4c]
Câu nói ấn tượng nhất trong tuần: "Về thẩm quyền
hủy bỏ của tòa án với quyết định của các cơ quan nhà
nước và tổ chức trái pháp luật, nếu thấy quyết định rõ
ràng trái pháp luật thì toà sơ thẩm có quyền huỷ, trừ
quyết định của Thủ tướng!".
Như vậy là Thủ tướng đứng trên tòa, Thủ tướng
được quyền trái luật mà không ai làm gì được, tòa án cũng
không dám, không được quyền đụng vào?
Bạn biết ai nói câu này không? Đó là Chánh án Tòa
tối cao Trương Hoà Bình.
Chợt nhớ trước đây, ông Trịnh Hồng Dương khi ngồi
ghế Chánh tòa tối cao cũng phát một câu khá nổi tiếng: Án
dân sự ở ta xử ... thế nào cũng được!
Tinh thần luật pháp đó cũng đã ngấm vào các nhà
đầu tư ngoại quốc. Đến như Chủ tịch Hội doanh nhân
Singapore tại TP. HCM, luật sư Benjamin Yap cũng phải thốt lên
một câu khá ấn tượng: Luật Việt Nam có muôn ngàn cách
hiểu, cùng một luật nhưng mỗi cơ quan khác nhau lại hiểu và
giải thích theo một cách khác nhau.
(TEPCO) - điều hành nhà máy hạt nhân đang gặp nạn ở Nhật
Bản - và các nhân viên cúi đầu để xin lỗi những người sơ
tán tại một trung tâm ở Koriyama, tỉnh Fukushima. Ảnh:
AFP.
Các bạn thường nghe nói về "văn hóa xin lỗi". Tôi bỗng liên
tưởng có "văn hóa xin lỗi" thì cũng có thể có "chính trị xin
lỗi" chứ nhỉ? Vậy thì chúng ta thử bàn xem sao? Nhưng mà xin
các bạn ghi nhận cho, khái niệm "chính trị xin lỗi" là sáng
tạo của tôi đấy nhé!
Cùng với hai tiếng "cảm ơn", hai tiếng "xin lỗi" có tần số
xuất hiện ngày càng phổ biến trong ngôn ngữ loài người.
Sống trên đời ai tránh được những sơ xuất, sai lầm, có khi
là tội lỗi. Điều đó khi xảy ra đã gây những tác hại,
tổn thương cho người khác. Người có lỗi nếu nhận thức
được sai lầm thường phải nói lời xin lỗi và sau đó sửa
chữa lỗi lầm bằng việc làm. Người được xin lỗi bằng
sự rộng lượng, chia sẻ, sẵn sàng bỏ qua, quên đi điều
đáng tiếc đã xảy ra.
Có điều hai tiếng xin lỗi đơn giản thế mà nhiều người
không sao nói ra được. Lại có người chỉ vì không nhận
được lời xin lỗi mà bức xúc, hậm hực, bất hòa, có khi
đến xuất huyết não. Cũng mừng là trong xã hội những người
biết nói lời xin lỗi là số đông vì con người biết hướng
thiện. Hai tiếng "xin lỗi" đã trở thành gạch nối giữa con
người với con người. Xin lỗi ngày nay đã trở thành nội dung
của nếp sống văn hóa, có khi còn là nguyên tắc không thể
thiếu trong hoạt động của các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức
xã hội.
Như trên đã nói, người ta cần phải xin lỗi khi để xảy ra
điều không hay cho người khác, khi không hoàn thành công việc
được giao hoặc khi cư xử không đúng với cương vị, bổn
phận của mình. Cũng có khi người ta "xin lỗi" khi lỗi đó do
người thân hoặc do cấp dưới gây ra mà họ là người liên
đới chịu trách nhiệm như con dại cái mang.
Vậy những người biết xin lỗi có đặc điểm gì?
Đó là những người khiêm nhường, biết mình biết người và
trước hết là biết tôn trọng người khác. Đó cũng là
người đã thành khẩn nhận thức sai lầm, thiếu sót của
mình, do đó biết sửa chữa để tiến bộ. Người biết xin
lỗi còn thể hiện là người khôn ngoan, tế nhị, lịch sự,
không chấp vặt. Họ cũng hiểu ra rằng không vì một lời xin
lỗi mà mất sĩ diện, mà hạ thấp mình, mà thua thiệt. Chính
vì thế những người biết xin lỗi, dù đã mắc lỗi, vẫn
được yêu mến, kính trọng, gần gũi.
Trong xã hội ta ngày nay, ông bà cha mẹ xin lỗi con cháu, cấp
trên xin lỗi cấp dưới, thầy cô giáo xin lỗi học trò, chủ
nhà xin lỗi osin v..v đã là điều bình thường. Tuy vậy trong
khi có cháu bé 3 tuổi biết nói lời xin lỗi thì vẫn còn
nhiều người lớn không làm được điều này.
Vậy ai là người không biết nói lời xin lỗi?
Trong giai cấp cầm quyền, những kẻ vua chúa tham tàn cường
bạo không bao giờ biết nói lời xin lỗi. Tương tự là các
chế độ độc tài ức hiếp nhân dân, coi nhân dân như cỏ
rác.
Trong nhân quần thì những người thiểu năng trí tuệ, những
người không được học hành hoặc những người quá ít giao
tiếp xã hội thường cũng chưa có được văn hóa xin lỗi.
Còn trong xã hội gọi là có văn hóa nói chung, những người
không biết xin lỗi là những người hèn nhát, sợ trách nhiệm.
Đáng buồn là những người này thường có học vị bằng cấp
đầy mình, có cương vị xã hội cao, có danh tiếng hoặc là
người của công chúng. Vì họ là những người "đáng kính"
như vậy nên sai lầm, tội lỗi của họ thường có tác hại
lớn cho xã hội. Họ không thể mở miệng nói lời xin lỗi
không phải vì họ ngô ngọng. Trái lại họ là những người
miệng có gang có thép, quát ra lửa. Họ không xin lỗi, không
phải họ không nhận thức được sai lầm nhưng vì họ sợ
nhận lỗi sẽ mất chức mất quyền mất lợi lộc. Họ trốn
tránh trách nhiệm, cả vú lấp miệng em, cãi chày cãi cối, có
khi ngậm máu phun người. Họ có thể trốn tránh được kỉ
luật và pháp luật nhưng không thể trốn tránh búa rìu dư
luận.
Trở lại khái niệm "chính trị xin lỗi" mà tôi nêu ở trên.
Nếu nói theo kiểu toán học thì văn hóa xin lỗi là tập hợp
mẹ còn chính trị xin lỗi là tập hợp con. Khái niệm "chính
trị xin lỗi" có phạm vi hẹp hơn "văn hóa xin lỗi". Theo quan
niệm của tôi, chính trị phải phát triển đến trình độ
nhân văn cao thì mới là chính trị văn hóa. Nhưng ở đời
thông thường chính trị lại không coi văn hóa là gì. Chính
trị cai quản, chi phối tất cả. Vì thế "chính trị xin lỗi"
rất đáng bàn.
Ta có thể đặt vấn đề cách khác là "chính khách và xin
lỗi".
Chính khách là những người tham gia guồng máy cầm quyền.
Giới chính khách cũng bao gồm những người biết xin lỗi và
những người không biết xin lỗi.
Chính khách biết xin lỗi là những nhà chính trị sáng suốt,
kính trọng nhân dân, khiêm tốn, khôn ngoan, nhận thức được
rõ những sai lầm thiếu sót của mình. Mỗi khi mắc sai lầm
họ sẵn sàng nhận khuyết điểm và xin lỗi nhân dân. Và họ
sửa chữa bằng những việc làm cụ thể, hoặc sẵn sàng từ
chức vì những lỗi lầm của mình. Họ đặt quyền lợi của
nhân dân, của dân tộc lên trên quyền lợi của bản thân, gia
đình và đảng phái.
Xem truyền hình chúng ta chứng kiến thủ tướng Nhật Bản
thường xuyên xin lỗi nhân dân Nhật. Ngài thủ tướng đứng
nghiêm, cúi rạp người, khôn mặt nghiêm trang, nói lời xin lỗi
một cách rất chân thành. Đó là khi chính phủ Nhật có một
báo cáo tài chính thiếu chính xác hoặc khi không rời được
căn cứ quân sự Mỹ khỏi Okinawa. Có khi ta thấy ngài thủ
tướng Nhật xin lỗi nhân dân cả khi một bộ trưởng ngủ
gật mà báo chí đưa tin. Thủ tướng nước Nhật cũng rất hay
từ chức vì ý thức được trách nhiệm của mình trước tổ
quốc và nhân dân họ.
Ngài thủ tướng Ôn Gia Bảo của nước láng giềng Trung Quốc
thì bay từ Bắc Kinh đến Quảng Châu, cầm chiếc loa tay đứng
giữa trời băng giá xin lỗi dân chúng vì bão tuyết khiến hàng
trăm ngàn người không về được quê ăn tết. Các chính khách
Hàn Quốc cũng là những người sẵn sàng nhận lỗi trước
nhân dân. Cựu tổng thống Rol Mao Hyun đã cúi đầu xin lỗi
nhân dân Hàn khi có những nghi ngờ người trong gia đình ông
liên quan đến một vụ tham nhũng. Rồi cũng vì chuyện đó ông
đã nhảy núi tự vẫn để chứng tỏ sự trong sạch của mình.
Ở cấp thấp hơn ngài bộ trưởng ngoại giao Hàn Quốc Myung
Hwan cũng công khai xin lỗi nhân dân và xin từ chức vì có cáo
buộc đã tuyển dụng con gái ông cho một vị trí được trả
lương cao của bộ ngoại giao.
Thông tin về văn hóa xin lỗi của các chính khách các nước
láng giềng tôi đọc được trên báo. Còn các chính khách
nước ta chắc cũng là những người biết xin lỗi nhưng có lẽ
vì chính phủ ta ít sai lầm, nên không có việc phải xin lỗi
nhân dân.
Thưa bạn đọc, mặc dù các chính khách đều là những người
có học vị cao song rất lạ là vẫn có nhiều chính khách không
hề biết xin lỗi, dù họ mắc rất nhiều sai lầm.
Vậy chính khách không biết xin lỗi là người thế nào ? Có
thể nói vắn tắt, dù không phải là vua chúa cường quyền tàn
bạo, họ vẫn là người đứng trên đầu nhân dân. Họ không
xin lỗi ai bởi đơn giản họ coi khinh tất cả, họ bao giờ
cũng đúng. Họ có sai cũng chẳng làm sao, không ai làm gì
được họ. Quyền lực làm họ trở thành kẻ mù quáng, kẻ vô
ơn nhân dân. Vì thế họ sẽ tiếp tục lao từ sai lầm này
đến sai lầm khác. Đến một lúc nào đó nhất định họ sẽ
bị đào thải, dù họ ở châu Á hay châu Âu, châu Phi hay châu
Mỹ.
Tôi xin kết thúc bài viết này bằng một ý chưa kịp nói ở
trên. Đó là cái tâm của người xin lỗi. Văn hóa xin lỗi đòi
hỏi người xin lỗi phải xin lỗi một cách thật sự, từ gan
ruột, từ trái tim mình. Chứ không phải xin lỗi cho qua chuyện,
xin lỗi một cách giả trá, lừa bịp.
Cuối cùng tôi xin chân thành xin lỗi bạn đọc nếu bài viết
này không làm hài lòng bạn.
TP Hồ Chí Minh, 24/03/2011.
[*] Bài viết do tác giả gửi trực tiếp cho Nguyễn Xuân
Diện-Blog. Xin chân thành cảm ơn!
___________________________
Trương Duy Nhất - Thủ tướng & luật pháp
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã để lại một hình ảnh
khá... ấn tượng khi ngả người nhịp tay trước quốc hội.
Còn Chánh tòa tối cao Trương Hòa Bình thì để lại một câu
nói ấn tượng không thua kém câu nói nổi tiếng trước đây
của cựu Chánh tòa tối cao Trịnh Hồng Dương.
Cái nhịp tay của Thủ tướng
Naoto Kan lại một lần nữa cúi đầu xin lỗi dân. Có thể bạn
ấn tượng với hình ảnh cúi đầu của người Nhật.
Có thể nhiều người nhiều trang quá sa đà vào
"đời cô Lượm" và chị nhà báo tên Ngân trong chương trình
"người xây tổ ấm".
Còn với tôi, ấn tượng nhất, khó quên nhất và...
cộm mắt nhất chính là hình ảnh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
ngồi ngả người đưa hai bàn tay nhịp trên mặt bàn trong phiên
họp cuối quốc hội khóa XII, trong lúc Phó Thủ tướng Nguyễn
Sinh Hùng đang đứng trên bục đọc quyết định kỷ luật của
Bộ Chính trị xem xét trách nhiệm Thủ tướng và các thành
viên chính phủ trong vụ Vinashin với hình thức: không kỷ luật
ai!
[video:http://www.youtube.com/watch?v=XdhaL0BU_4c]
và... luật pháp
Câu nói ấn tượng nhất trong tuần: "Về thẩm quyền
hủy bỏ của tòa án với quyết định của các cơ quan nhà
nước và tổ chức trái pháp luật, nếu thấy quyết định rõ
ràng trái pháp luật thì toà sơ thẩm có quyền huỷ, trừ
quyết định của Thủ tướng!".
Như vậy là Thủ tướng đứng trên tòa, Thủ tướng
được quyền trái luật mà không ai làm gì được, tòa án cũng
không dám, không được quyền đụng vào?
Bạn biết ai nói câu này không? Đó là Chánh án Tòa
tối cao Trương Hoà Bình.
Chợt nhớ trước đây, ông Trịnh Hồng Dương khi ngồi
ghế Chánh tòa tối cao cũng phát một câu khá nổi tiếng: Án
dân sự ở ta xử ... thế nào cũng được!
Tinh thần luật pháp đó cũng đã ngấm vào các nhà
đầu tư ngoại quốc. Đến như Chủ tịch Hội doanh nhân
Singapore tại TP. HCM, luật sư Benjamin Yap cũng phải thốt lên
một câu khá ấn tượng: Luật Việt Nam có muôn ngàn cách
hiểu, cùng một luật nhưng mỗi cơ quan khác nhau lại hiểu và
giải thích theo một cách khác nhau.
HỐT HOẢNG TRƯỚC “TIỀN LỆ XẤU” LIBYA. VGCS “LẠY ÔNG TÔI Ở BỤI NÀY”
Trích Diễn Đàn Paltalk VietnamExodus
Không phải tình cờ mà tên nước Libya và tên nước VN dưới chế độ cộng sản sống sót, đều có đuôi “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa”. Không phải tình cờ, khách ngoại quốc đến Libya hay đến VN, đầu đường xó chợ, đâu đâu cũng thấy chưng hình lãnh tụ; ở Libya thì hình Gaddafi; ở VN thì hình “Hồ Râu Dê” – “Goatee Ho”. Trẻ con VN nô lệ cộng sản quàng khăn đỏ. Trẻ con Libya nô lệ Gaddafi quàng khăn xanh lá cây – green. Năm xưa VGCS “chống Mỹ cứu nước” thế nào, năm nay Gaddafi “chống Tây cứu đạo Hồi” y như thế. Năm xưa “đảng ta” dùng đàn bà con nít làm “bia đỡ đạn” ở Mỹ Lai thế nào, năm nay Gaddafi tố cáo Tây Phương “giết hại thường dân” ở Tripoli cũng y như thế. Những thủ đoạn khác, từ “vừa đánh vừa đàm” cho đến “tạo sơ hở, phân hóa địch” hay “nói ngưng bắn mà nổ súng tấn công”.v.v… nhất nhất, Libya của Gaddafi rập khuôn tuồng tích “Hồ Râu Dê”. Khách bàng quan không bõ bật cười trước trò hề sao chép muộn màng của con chó điên Trung Đông, nhưng bọn cộng sản sống sót ở VN, trong tâm trạng “sờ lên gáy”, bất giác “trông người lại nghĩ đến ta”, và dù “lạc quan tếu” đến đâu, cũng “cười không nổi”. Cùng một tâm trạng, nhưng Nga và Tàu đều chỉ thay nhau “làu bàu” những luận điệu xưa cũ, như … “yêu cầu chấm dứt bạo lực quân sự”, hay “phải bảo vệ tính mạng thường dân”, v.v… nhưng đã không dám dùng quyền phủ quyết ở Hội Đồng Bảo An LHQ để chống lại việc liên quân trừng trị Gaddafi. Hai chủ cũ của VGCS không bị mặc cảm “sờ lên gáy”. Tại sao ? – Nga đã minh bạch “thôi cộng sản”, còn Tàu thì “nhập nhằng mèo trắng mèo đen”, đã được Mỹ làm ngơ – theo cái gọi là “Đồng Thuận Bắc Kinh” – cho hội nhập “tư bản giả cầy”, cho đến khi không còn “chậm tiến”. Trong danh biểu Chỉ Số Nổi Loạn – Revolting Index – của Wall Street Journal, Nga đứng hạng 40, Tàu hạng 30, VGCS hạng 11, còn trên cả Libya hạng 13, trên luôn Egypt hạng 16 và Tunisia hạng 21. Cương Lĩnh Đại Hội XI đảng csvn mới vừa “phạch ngực” hùng hổ “tiến tới cách mạng thế giới”, thì khi bị LHQ thông qua nghị quyết 1970 trừng trị y, Gaddafi cũng đã đưa chiêu bài “cách mạng thế giới” ra chống đỡ. Cũng cái nghị quyết 1970 ấy, cả thế giới loan tin Liên Hiệp Quốc thông qua, nhưng thông tấn xã nhà-nước VGCS loan tin “chổng ngược”, rằng Libya “bác” nghị quyết 1970 của Liên Hợp Quốc. Cùng lúc, báo Nhân Dân, tờ báo chính thức của “nhà-nước ta” nghênh ngang ra mặt đứng về phe “bạo quyền” Gaddafi. Tờ báo ấy cũng lên án Đồng Minh “vi phạm chủ quyền một nước độc lập”, và danh nghĩa “bảo vệ tính mạng thường dân” chỉ là “khoác áo nhân quyền”. Ai cũng phải ngạc nhiên trước thái độ “vơ vào không cần thiết” ấy của VGCS. Ngay đến quan thày cũ của chúng là Nga, và quan thày bây giờ của chúng là Tàu Cộng, dù miễn cưỡng cũng chỉ chọn thái độ “tọa sơn quan hổ đấu”. Động lực nào khiến chúng phải ra mặt về hùa với một tên khủng bố quốc tế, đang bị coi là “công địch” của loài người ? Tệ hơn, chúng gọi việc liên quân can thiệp ở Libya là một “tiền lệ xấu”, làm như sắp đến phiên chúng. Đang khi phải đeo đủ thứ “mặt nạ”, lừa bịp quốc dân và quốc tế để cầu sinh, mà “lú lẫn” đến nỗi “lạy ông tôi ở bụi này” như thế, quả thật bọn VGCS này đã “tới số
Không phải tình cờ mà tên nước Libya và tên nước VN dưới chế độ cộng sản sống sót, đều có đuôi “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa”. Không phải tình cờ, khách ngoại quốc đến Libya hay đến VN, đầu đường xó chợ, đâu đâu cũng thấy chưng hình lãnh tụ; ở Libya thì hình Gaddafi; ở VN thì hình “Hồ Râu Dê” – “Goatee Ho”. Trẻ con VN nô lệ cộng sản quàng khăn đỏ. Trẻ con Libya nô lệ Gaddafi quàng khăn xanh lá cây – green. Năm xưa VGCS “chống Mỹ cứu nước” thế nào, năm nay Gaddafi “chống Tây cứu đạo Hồi” y như thế. Năm xưa “đảng ta” dùng đàn bà con nít làm “bia đỡ đạn” ở Mỹ Lai thế nào, năm nay Gaddafi tố cáo Tây Phương “giết hại thường dân” ở Tripoli cũng y như thế. Những thủ đoạn khác, từ “vừa đánh vừa đàm” cho đến “tạo sơ hở, phân hóa địch” hay “nói ngưng bắn mà nổ súng tấn công”.v.v… nhất nhất, Libya của Gaddafi rập khuôn tuồng tích “Hồ Râu Dê”. Khách bàng quan không bõ bật cười trước trò hề sao chép muộn màng của con chó điên Trung Đông, nhưng bọn cộng sản sống sót ở VN, trong tâm trạng “sờ lên gáy”, bất giác “trông người lại nghĩ đến ta”, và dù “lạc quan tếu” đến đâu, cũng “cười không nổi”. Cùng một tâm trạng, nhưng Nga và Tàu đều chỉ thay nhau “làu bàu” những luận điệu xưa cũ, như … “yêu cầu chấm dứt bạo lực quân sự”, hay “phải bảo vệ tính mạng thường dân”, v.v… nhưng đã không dám dùng quyền phủ quyết ở Hội Đồng Bảo An LHQ để chống lại việc liên quân trừng trị Gaddafi. Hai chủ cũ của VGCS không bị mặc cảm “sờ lên gáy”. Tại sao ? – Nga đã minh bạch “thôi cộng sản”, còn Tàu thì “nhập nhằng mèo trắng mèo đen”, đã được Mỹ làm ngơ – theo cái gọi là “Đồng Thuận Bắc Kinh” – cho hội nhập “tư bản giả cầy”, cho đến khi không còn “chậm tiến”. Trong danh biểu Chỉ Số Nổi Loạn – Revolting Index – của Wall Street Journal, Nga đứng hạng 40, Tàu hạng 30, VGCS hạng 11, còn trên cả Libya hạng 13, trên luôn Egypt hạng 16 và Tunisia hạng 21. Cương Lĩnh Đại Hội XI đảng csvn mới vừa “phạch ngực” hùng hổ “tiến tới cách mạng thế giới”, thì khi bị LHQ thông qua nghị quyết 1970 trừng trị y, Gaddafi cũng đã đưa chiêu bài “cách mạng thế giới” ra chống đỡ. Cũng cái nghị quyết 1970 ấy, cả thế giới loan tin Liên Hiệp Quốc thông qua, nhưng thông tấn xã nhà-nước VGCS loan tin “chổng ngược”, rằng Libya “bác” nghị quyết 1970 của Liên Hợp Quốc. Cùng lúc, báo Nhân Dân, tờ báo chính thức của “nhà-nước ta” nghênh ngang ra mặt đứng về phe “bạo quyền” Gaddafi. Tờ báo ấy cũng lên án Đồng Minh “vi phạm chủ quyền một nước độc lập”, và danh nghĩa “bảo vệ tính mạng thường dân” chỉ là “khoác áo nhân quyền”. Ai cũng phải ngạc nhiên trước thái độ “vơ vào không cần thiết” ấy của VGCS. Ngay đến quan thày cũ của chúng là Nga, và quan thày bây giờ của chúng là Tàu Cộng, dù miễn cưỡng cũng chỉ chọn thái độ “tọa sơn quan hổ đấu”. Động lực nào khiến chúng phải ra mặt về hùa với một tên khủng bố quốc tế, đang bị coi là “công địch” của loài người ? Tệ hơn, chúng gọi việc liên quân can thiệp ở Libya là một “tiền lệ xấu”, làm như sắp đến phiên chúng. Đang khi phải đeo đủ thứ “mặt nạ”, lừa bịp quốc dân và quốc tế để cầu sinh, mà “lú lẫn” đến nỗi “lạy ông tôi ở bụi này” như thế, quả thật bọn VGCS này đã “tới số
Bộ máy kiểm duyệt văn học ở Việt Nam
Lời tác giả: Trong bài này, tôi chỉ dừng lại ở thời điểm 1990. Mọi diễn biến sau đó sẽ không được bàn đến. NHQ
Bất cứ người cầm bút nào dưới chế độ cộng sản cũng đều lệ thuộc vào ba tổ chức: một tổ chức đảng, một tổ chức nhà nước và một tổ chức quần chúng.
Tổ chức đảng có nhiệm vụ lãnh đạo. Đó là Ban Tuyên huấn và Ban Văn hoá Văn nghệ Trung ương trước đây, tức Ban Tư tưởng – Văn hoá hiện nay. Lãnh đạo ở ba phương diện: tư tưởng, nghệ thuật và sinh hoạt.
Tổ chức nhà nước có nhiệm vụ quản lý. Đó là Bộ Văn hoá đối với các ngành nghệ thuật tạo hình (hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc), nghệ thuật biểu diễn (ca, nhạc, kịch, điện ảnh) và Bộ Thông tin đối với văn học và báo chí. Có ba lãnh vực được quản lý: ngân sách, nhân sự và cơ sở. Có ba loại cơ sở: nhà xuất bản, nhà in, công ty phát hành.
Tổ chức quần chúng của giới cầm bút là Hội Nhà văn và rộng hơn Hội Nhà văn là Ủy ban Trung ương Liên hiệp Văn học Nghệ thuật.
Vấn đề là: tổ chức nào có quyền hạn kiểm duyệt văn nghệ?
Dĩ nhiên không phải là Hội Nhà văn hay Ủy ban Trung ương Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Đó chỉ là những tổ chức có tính chất “mặt trận”, chức năng chủ yếu là tập họp lực lượng để nhà nước dễ quản lý và đảng dễ lãnh đạo. Thế thôi. Ngay cả Nguyễn Đình Thi, tổng thư ký Hội Nhà văn, đến đầu năm 1989, cũng có đến sáu vở kịch bị cấm xuất bản (1).
Cũng không phải Bộ Thông tin. Trong Bộ Thông tin có Cục xuất bản, nhưng La Thăng, Cục trưởng Cục xuất bản lại xác định nhiệm vụ của Cục chỉ là “tổng hợp, cân đối, kiểm tra các kế hoạch, đề tài hàng năm và ký xác nhận vào các bản kế hoạch (kể cả các kế hoạch bổ sung), đồng thời theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của từng nhà xuất bản”.
La Thăng lại nhấn mạnh:
“Cục xuất bản không có chức năng xét duyệt nội dung từng tên sách” (2).
La Thăng không nói dối. Trong Bộ Thông tin hoặc trong Cục xuất bản không có một cơ quan nào chuyên trách về vấn đề kiểm duyệt nội dung sách báo, dù ẩn nấp dưới bất cứ hình thức hay danh nghĩa gì. Và Bộ Thông tin cộng sản, từ xưa đến nay, chưa bao giờ lệnh cấm hay thu hồi một tác phẩm nào cả; (3) cũng chưa bao giờ truy tố hay trừng phạt một tác giả nào cả (trừ trường hợp sách, báo xuất bản “chui”). Trước đây cộng sản đã không ngừng khai thác tính chất “hiền lành” và “vô hại” ấy của Bộ Thông tin để tuyên truyền cho sự tự do sáng tác và tự do sáng tạo dưới chế độ của mình.
Theo dõi tất cả những vụ án văn nghệ dưới chế độ cộng sản, người ta luôn luôn bắt gặp một thủ phạm duy nhất: đảng. Luôn luôn là đảng. Không phải Ban Tuyên huấn thì là Ban Văn hoá Văn nghệ Trung ương của đảng. Không có ai khác. Người tự nhận nắm vai trò lãnh đạo văn nghệ cũng đồng thời là người thực hiện việc kiểm duyệt văn nghệ.
Cũng La Thăng, Cục trưởng Cục xuất bản thuộc Bộ Thông tin cho biết:
“Các sách của các nhà xuất bản chuyên nghiệp, theo nguyên tắc, phải được ghi trong kế hoạch hằng năm của nhà xuất bản, được cấp lãnh đạo các bộ, các ngành, các đoàn thể xét duyệt (đối với các nhà xuất bản ở trung ương), hoặc được hội đồng xuất bản xem xét, và Ban Tuyên huấn tỉnh, thành xét duyệt (đối với các nhà xuất bản địa phương). (4)”
Đối với các nhà xuất bản địa phương, ý của La Thăng đã rõ: nhiệm vụ kiểm duyệt (ông gọi là xét duyệt) nằm trong tay Ban Tuyên huấn thuộc tỉnh ủy hoặc thành ủy. Nhưng đối với các nhà xuất bản ở trung ương, cách diễn tả ở trên có phần hơi mơ hồ. Cơ quan chủ quản của nhà xuất bản là ai? Ví dụ, cơ quan chủ quản của nhà xuất bản Tác Phẩm Mới là Hội Nhà văn. Nhưng Hội Nhà văn lại không có quyền hạn kiểm duyệt các ấn phẩm của nhà xuất bản Tác Phẩm Mới. Nhớ lại lời phát biểu của nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh: “Sách, báo, bài vở của hội viên do những nơi nào duyệt kia, chứ Hội không được “ý kiến” vào đấy” (5).
Vậy ở đây phải hiểu là cơ quan chủ quản cao nhất chứ không phải là cơ quan chủ quản trực tiếp. Cơ quan chủ quản trực tiếp của nhà xuất bản Tác Phẩm Mới là Hội Nhà văn. Cơ quan chủ quản cao nhất của nó lại là Ban Tuyên huấn và Ban Văn hoá Văn nghệ.
Trong Lời giới thiệu quyển Từ điển Việt Anh của Bùi Phụng, do trường Đại học Tổng hợp Hà Nội tái bản năm 1986, Phan Hữu Dật viết:
“… cuốn Từ điển Việt Anh của đồng chí Bùi Phụng sau khi được xuất bản, đã được đông đảo người đọc trong và ngoài nước, nhất là các nhà khoa học, sinh viên và học sinh sử dụng rộng rãi và hoan nghênh… Trong tám năm qua, kể từ khi cuốn Từ điển được xuất bản, trường chúng tôi đã nhận được yêu cầu của nhiều cơ quan và cá nhân trong và ngoài nước đặt mua, nhưng chúng tôi không thể đáp ứng được vì sách đã bán hết.
Lần này, được phép của Ban Tuyên huấn trung ương đảng, Bộ Văn hoá và Thông tin, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội tái bản cuốn Từ điển Việt Anh của đồng chí Bùi Phụng”.
Hai cơ quan cấp giấy phép để tái bản quyển Từ điển Việt Anh, theo lời Phan Hữu Dật, hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp Hà Nội là Ban Tuyên huấn và Bộ Văn hoá và Thông tin (sau này tách đôi thành Bộ Văn hoá và Bộ Thông tin).
Cũng cùng một vấn đề như vậy, nhưng Thuận Trung, trên tạp chí Cộng sản tháng 6 năm 1989 viết rõ hơn, chi tiết hơn:
“… Nhà xuất bản Đại học được Vụ xuất bản Ban tuyên huấn trung ương và Cục xuất bản Bộ Thông tin cho phép in lại một số tác phẩm của Tự Lực văn đoàn (có kèm theo lời giới thiệu, đánh giá và hướng dẫn nghiên cứu) trong ‘Tủ sách nhà trường’ dành cho sinh viên” (trang 62).
Như vậy, hai cơ quan trực tiếp đảm nhận việc kiểm duyệt là Vụ xuất bản thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương và Cục xuất bản thuộc Bộ Thông tin. Ở trên, La Thăng, Cục trưởng Cục xuất bản đã cho biết là Cục này chỉ có nhiệm vụ “tổng hợp, cân đối, kiểm tra kế hoạch đề tài hằng năm” chứ “không có chức năng xét duyệt nội dung từng tên sách”. Dùng phép loại trừ, chúng ta có thể kết luận: đảm nhận việc kiểm duyệt sách dưới chế độ cộng sản là Vụ xuất bản trực thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương.
Kiểm duyệt báo lại có một cơ quan khác cũng trực thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương: Vụ báo chí.
Có thể nêu lên một đặc điểm lớn đầu tiên của hệ thống kiểm duyệt văn nghệ dưới chế độ cộng sản: hệ thống kiểm duyệt ấy nằm trong tay đảng chứ không phải nằm trong tay nhà nước. Tổ chức đảng đặc trách vấn đề kiểm duyệt là Ban Tuyên huấn, hoặc nói cụ thể hơn, là Vụ xuất bản và Vụ báo chí thuộc Ban Tuyên huấn.
Đặc điểm thứ hai: Vụ xuất bản và Vụ báo chí thuộc Ban Tuyên huấn không có văn phòng cố định để mọi người có thể đến đó nộp bản thảo chờ kiểm duyệt. Phương thức làm việc của Vụ xuất bản và Vụ báo chí là phân tán nhân sự và quyền hành xuống các cơ sở. Ban Tuyên huấn chỉ là kẻ quyết định cuối cùng trước khi in. Với phương thức tổ chức như thế, hệ thống kiểm duyệt dưới chế độ cộng sản được phân chia thành nhiều đợt qua nhiều cấp khác nhau:
Đối với báo chí, có ba cấp:
1. Ban biên tập.
2. Ban giám đốc.
3. Ban tuyên huấn (nếu là báo chuyên về văn nghệ thì có sự cộng tác của Ban Văn hoá Văn nghệ).
Đối với sách cũng có ba cấp:
1. Ban biên tập.
2. Hội đồng nghệ thuật của nhà xuất bản.
3. Hội đồng xuất bản trung ương hoặc địa phương (do Ban Tuyên huấn chủ trì).
Trên báo Văn Nghệ số ra ngày 29-4-1989, Phạm Đức tóm lược những “con đường đau khổ” mà một tác phẩm văn học phải trải qua để đến được với quần chúng: “Trong cách thức xuất bản hiện nay… mỗi quyển sách được ra đời đều đã qua khá nhiều ‘cửa ải’ (Người biên tập các cấp, tổng biên tập và giám đốc Cục, Vụ duyệt đề tài).”
(Trích từ cuốn Văn Học Việt Nam Dưới Chế Độ Cộng Sản, Văn Nghệ xuất bản lần đầu tại California, 1991)
***
Chú thích:
1. Văn Nghệ, Hà Nội, 11.3.1989.
2. Nhân Dân, Hà Nội, 24.4.1989.
3. Đây là nói chuyện trước năm 1990. Sau đó thì khác. Có khá nhiều tác phẩm bị cấm và/hoặc thu hồi.
4. Văn Nghệ, Hà Nội, 24.9.1989.
5. Văn Nghệ, 5.9.1987.
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
Bất cứ người cầm bút nào dưới chế độ cộng sản cũng đều lệ thuộc vào ba tổ chức: một tổ chức đảng, một tổ chức nhà nước và một tổ chức quần chúng.
Tổ chức đảng có nhiệm vụ lãnh đạo. Đó là Ban Tuyên huấn và Ban Văn hoá Văn nghệ Trung ương trước đây, tức Ban Tư tưởng – Văn hoá hiện nay. Lãnh đạo ở ba phương diện: tư tưởng, nghệ thuật và sinh hoạt.
Tổ chức nhà nước có nhiệm vụ quản lý. Đó là Bộ Văn hoá đối với các ngành nghệ thuật tạo hình (hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc), nghệ thuật biểu diễn (ca, nhạc, kịch, điện ảnh) và Bộ Thông tin đối với văn học và báo chí. Có ba lãnh vực được quản lý: ngân sách, nhân sự và cơ sở. Có ba loại cơ sở: nhà xuất bản, nhà in, công ty phát hành.
Tổ chức quần chúng của giới cầm bút là Hội Nhà văn và rộng hơn Hội Nhà văn là Ủy ban Trung ương Liên hiệp Văn học Nghệ thuật.
Vấn đề là: tổ chức nào có quyền hạn kiểm duyệt văn nghệ?
Dĩ nhiên không phải là Hội Nhà văn hay Ủy ban Trung ương Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Đó chỉ là những tổ chức có tính chất “mặt trận”, chức năng chủ yếu là tập họp lực lượng để nhà nước dễ quản lý và đảng dễ lãnh đạo. Thế thôi. Ngay cả Nguyễn Đình Thi, tổng thư ký Hội Nhà văn, đến đầu năm 1989, cũng có đến sáu vở kịch bị cấm xuất bản (1).
Cũng không phải Bộ Thông tin. Trong Bộ Thông tin có Cục xuất bản, nhưng La Thăng, Cục trưởng Cục xuất bản lại xác định nhiệm vụ của Cục chỉ là “tổng hợp, cân đối, kiểm tra các kế hoạch, đề tài hàng năm và ký xác nhận vào các bản kế hoạch (kể cả các kế hoạch bổ sung), đồng thời theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của từng nhà xuất bản”.
La Thăng lại nhấn mạnh:
“Cục xuất bản không có chức năng xét duyệt nội dung từng tên sách” (2).
La Thăng không nói dối. Trong Bộ Thông tin hoặc trong Cục xuất bản không có một cơ quan nào chuyên trách về vấn đề kiểm duyệt nội dung sách báo, dù ẩn nấp dưới bất cứ hình thức hay danh nghĩa gì. Và Bộ Thông tin cộng sản, từ xưa đến nay, chưa bao giờ lệnh cấm hay thu hồi một tác phẩm nào cả; (3) cũng chưa bao giờ truy tố hay trừng phạt một tác giả nào cả (trừ trường hợp sách, báo xuất bản “chui”). Trước đây cộng sản đã không ngừng khai thác tính chất “hiền lành” và “vô hại” ấy của Bộ Thông tin để tuyên truyền cho sự tự do sáng tác và tự do sáng tạo dưới chế độ của mình.
Theo dõi tất cả những vụ án văn nghệ dưới chế độ cộng sản, người ta luôn luôn bắt gặp một thủ phạm duy nhất: đảng. Luôn luôn là đảng. Không phải Ban Tuyên huấn thì là Ban Văn hoá Văn nghệ Trung ương của đảng. Không có ai khác. Người tự nhận nắm vai trò lãnh đạo văn nghệ cũng đồng thời là người thực hiện việc kiểm duyệt văn nghệ.
Cũng La Thăng, Cục trưởng Cục xuất bản thuộc Bộ Thông tin cho biết:
“Các sách của các nhà xuất bản chuyên nghiệp, theo nguyên tắc, phải được ghi trong kế hoạch hằng năm của nhà xuất bản, được cấp lãnh đạo các bộ, các ngành, các đoàn thể xét duyệt (đối với các nhà xuất bản ở trung ương), hoặc được hội đồng xuất bản xem xét, và Ban Tuyên huấn tỉnh, thành xét duyệt (đối với các nhà xuất bản địa phương). (4)”
Đối với các nhà xuất bản địa phương, ý của La Thăng đã rõ: nhiệm vụ kiểm duyệt (ông gọi là xét duyệt) nằm trong tay Ban Tuyên huấn thuộc tỉnh ủy hoặc thành ủy. Nhưng đối với các nhà xuất bản ở trung ương, cách diễn tả ở trên có phần hơi mơ hồ. Cơ quan chủ quản của nhà xuất bản là ai? Ví dụ, cơ quan chủ quản của nhà xuất bản Tác Phẩm Mới là Hội Nhà văn. Nhưng Hội Nhà văn lại không có quyền hạn kiểm duyệt các ấn phẩm của nhà xuất bản Tác Phẩm Mới. Nhớ lại lời phát biểu của nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh: “Sách, báo, bài vở của hội viên do những nơi nào duyệt kia, chứ Hội không được “ý kiến” vào đấy” (5).
Vậy ở đây phải hiểu là cơ quan chủ quản cao nhất chứ không phải là cơ quan chủ quản trực tiếp. Cơ quan chủ quản trực tiếp của nhà xuất bản Tác Phẩm Mới là Hội Nhà văn. Cơ quan chủ quản cao nhất của nó lại là Ban Tuyên huấn và Ban Văn hoá Văn nghệ.
Trong Lời giới thiệu quyển Từ điển Việt Anh của Bùi Phụng, do trường Đại học Tổng hợp Hà Nội tái bản năm 1986, Phan Hữu Dật viết:
“… cuốn Từ điển Việt Anh của đồng chí Bùi Phụng sau khi được xuất bản, đã được đông đảo người đọc trong và ngoài nước, nhất là các nhà khoa học, sinh viên và học sinh sử dụng rộng rãi và hoan nghênh… Trong tám năm qua, kể từ khi cuốn Từ điển được xuất bản, trường chúng tôi đã nhận được yêu cầu của nhiều cơ quan và cá nhân trong và ngoài nước đặt mua, nhưng chúng tôi không thể đáp ứng được vì sách đã bán hết.
Lần này, được phép của Ban Tuyên huấn trung ương đảng, Bộ Văn hoá và Thông tin, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội tái bản cuốn Từ điển Việt Anh của đồng chí Bùi Phụng”.
Hai cơ quan cấp giấy phép để tái bản quyển Từ điển Việt Anh, theo lời Phan Hữu Dật, hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp Hà Nội là Ban Tuyên huấn và Bộ Văn hoá và Thông tin (sau này tách đôi thành Bộ Văn hoá và Bộ Thông tin).
Cũng cùng một vấn đề như vậy, nhưng Thuận Trung, trên tạp chí Cộng sản tháng 6 năm 1989 viết rõ hơn, chi tiết hơn:
“… Nhà xuất bản Đại học được Vụ xuất bản Ban tuyên huấn trung ương và Cục xuất bản Bộ Thông tin cho phép in lại một số tác phẩm của Tự Lực văn đoàn (có kèm theo lời giới thiệu, đánh giá và hướng dẫn nghiên cứu) trong ‘Tủ sách nhà trường’ dành cho sinh viên” (trang 62).
Như vậy, hai cơ quan trực tiếp đảm nhận việc kiểm duyệt là Vụ xuất bản thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương và Cục xuất bản thuộc Bộ Thông tin. Ở trên, La Thăng, Cục trưởng Cục xuất bản đã cho biết là Cục này chỉ có nhiệm vụ “tổng hợp, cân đối, kiểm tra kế hoạch đề tài hằng năm” chứ “không có chức năng xét duyệt nội dung từng tên sách”. Dùng phép loại trừ, chúng ta có thể kết luận: đảm nhận việc kiểm duyệt sách dưới chế độ cộng sản là Vụ xuất bản trực thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương.
Kiểm duyệt báo lại có một cơ quan khác cũng trực thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương: Vụ báo chí.
Có thể nêu lên một đặc điểm lớn đầu tiên của hệ thống kiểm duyệt văn nghệ dưới chế độ cộng sản: hệ thống kiểm duyệt ấy nằm trong tay đảng chứ không phải nằm trong tay nhà nước. Tổ chức đảng đặc trách vấn đề kiểm duyệt là Ban Tuyên huấn, hoặc nói cụ thể hơn, là Vụ xuất bản và Vụ báo chí thuộc Ban Tuyên huấn.
Đặc điểm thứ hai: Vụ xuất bản và Vụ báo chí thuộc Ban Tuyên huấn không có văn phòng cố định để mọi người có thể đến đó nộp bản thảo chờ kiểm duyệt. Phương thức làm việc của Vụ xuất bản và Vụ báo chí là phân tán nhân sự và quyền hành xuống các cơ sở. Ban Tuyên huấn chỉ là kẻ quyết định cuối cùng trước khi in. Với phương thức tổ chức như thế, hệ thống kiểm duyệt dưới chế độ cộng sản được phân chia thành nhiều đợt qua nhiều cấp khác nhau:
Đối với báo chí, có ba cấp:
1. Ban biên tập.
2. Ban giám đốc.
3. Ban tuyên huấn (nếu là báo chuyên về văn nghệ thì có sự cộng tác của Ban Văn hoá Văn nghệ).
Đối với sách cũng có ba cấp:
1. Ban biên tập.
2. Hội đồng nghệ thuật của nhà xuất bản.
3. Hội đồng xuất bản trung ương hoặc địa phương (do Ban Tuyên huấn chủ trì).
Trên báo Văn Nghệ số ra ngày 29-4-1989, Phạm Đức tóm lược những “con đường đau khổ” mà một tác phẩm văn học phải trải qua để đến được với quần chúng: “Trong cách thức xuất bản hiện nay… mỗi quyển sách được ra đời đều đã qua khá nhiều ‘cửa ải’ (Người biên tập các cấp, tổng biên tập và giám đốc Cục, Vụ duyệt đề tài).”
(Trích từ cuốn Văn Học Việt Nam Dưới Chế Độ Cộng Sản, Văn Nghệ xuất bản lần đầu tại California, 1991)
***
Chú thích:
1. Văn Nghệ, Hà Nội, 11.3.1989.
2. Nhân Dân, Hà Nội, 24.4.1989.
3. Đây là nói chuyện trước năm 1990. Sau đó thì khác. Có khá nhiều tác phẩm bị cấm và/hoặc thu hồi.
4. Văn Nghệ, Hà Nội, 24.9.1989.
5. Văn Nghệ, 5.9.1987.
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
Ba tài liệu gửi bạn đọc BVN
Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà, vợ của luật gia Cù Huy Hà Vũ, vừa gửi tới trang BVN ba tài liệu:
1./ Thư của ông Vũ Đức Khanh, Luật sư thuộc Luật sư đoàn tỉnh bang Ontario, Canada, gửi gửi cho bà Dương Hà báo tin ông vừa có e-mail thỉnh nguyện thư gửi Thủ tướng Canada tố cáo việc Nhà nước Việt Nam bắt giam TS Cù Huy Hà Vũ trái với Hiến pháp và luật pháp Việt Nam cũng như Công ước quốc tế, đồng thời đề nghị Thủ tướng Canada can thiệp với Thủ tướng và Chính phủ Việt Nam trả tự do vô điều kiện cho TS Cù Huy Hà Vũ, và ông đã nhận được phúc đáp của Văn phòng Phủ Thủ tướng Canada.
2./ E-mail thỉnh nguyện thư của Luật sư Vũ Đức Khanh gửi đến Thủ tướng Canada, đề nghị Thủ tướng can thiệp trả tự do cho Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ.
3./ E-mail của Văn phòng Phủ Thủ tướng Canada gửi Luật sư Vũ Đức Khanh xác nhận đã nhận được thư thỉnh nguyện này.
Ban biên tập BVN giao ông Phạm Toàn dịch hai e-mail sau, còn lá thư thứ nhất viết bằng tiếng Việt nên không cần dịch.
Một điều nữa cũng không cần thông dịch - nhưng rất đáng được dùng để đối sánh, đối sánh thế nào thì xin bạn đọc tự hiểu - đó là thái độ lịch thiệp, thượng tôn luật pháp của ông Thủ tướng Canada, qua đó thấy rõ lòng tôn trọng ý kiến người dân cũng như lòng tự trọng của ông Thủ tướng một nước dân chủ đích thực, tuy không "gấp triệu lần" như nước mình.
Bauxite Việt Nam
Tài liệu 1: Thư Luật sư Vũ Đức Khanh gửi Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà
March 23, 2011 2:08:51 AM
Subject: Thỉnh nguyện thư
Kính gửi bà Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà,
Kính thưa bà Luật sư,
Tôi, Vũ Đức Khanh, Luật sư thuộc Luật sư đoàn tỉnh bang Ontario, Canada nay xin được phép gửi đến bà lá thư ủng hộ này và xin phép bà cho tôi được ký tên chung vào thỉnh nguyện thư mà bà đã ký ngày 16/03/2011 gửi cho nhà chức trách Việt Nam về vụ án liên quan đến Luật gia Cù Huy Hà Vũ.
Là một công dân Việt Nam từ lâu mến mộ những cử chỉ và việc làm đáng kính của Luật gia Cù Huy Hà Vũ, tôi vô cùng bức xúc trước việc Chính phủ Việt Nam bắt tạm giam trái luật ông Vũ và đang chuẩn bị đưa ông ra tòa với cáo trạng vi phạm điều 88 của Bộ Luật Hình sự Việt Nam.
Tôi xem hành động này của Chính phủ Việt Nam là vi phạm nghiêm trọng quyền hiến định công dân của ông Vũ thể theo Hiến pháp 1992, đồng thời vi phạm cả Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam đã tham gia ký và thông qua vào ngày 24/09/1982. Ngoài ra, việc bắt giữ và truy tố ông Vũ không những là một tổn thất rất lớn cho sự nghiệp xây dựng và phát triển tư tưởng nhà nước pháp trị tại Việt Nam mà còn làm mất thêm uy tín cũng như ảnh hưởng của Việt Nam trên chính trường quốc tế.
Qua đó và sau khi đọc thỉnh nguyện thư của bà, tôi hoàn toàn nhất trí với nội dung cũng như quan điểm của thỉnh nguyện thư trên nên mạn phép đề nghị bà cho tôi được ký tên chung trong thỉnh nguyện thư này trước khi gửi đến nhà chức trách Việt Nam.
Nhân tiện, tôi cũng xin phép thông báo cho bà rõ là ngày 18/03/2011 tôi cũng đã có công văn gửi đến văn phòng ngài Stephen Harper, Thủ tướng Canada để nhờ ngài Thủ tướng nhân danh Chính phủ Canada can thiệp cho ông Vũ được trả tự do vô điều kiện và ngay lập tức, đồng thời yêu cầu Chính phủ Việt Nam phải cam đoan là không bức hại ông Vũ trong khi ông vẫn còn bị giam giữ. Ngài Thủ tướng Canada cũng đã có công văn trả lời hôm 21/03/2011 rằng vụ việc này đã được chuyển tới ngài Ngoại trưởng Lawrence Cannon để được cứu xét.
Trong khi chờ đợi, nếu bà cần những văn bản trên, xin bà vui lòng gửi cho tôi điện thư thông báo thì tôi sẽ rất lấy làm vinh dự được chuyển ngay đến bà.
Trân trọng kính chào thân ái.
Luật sư Vũ Đức Khanh
Khanh VU DUC, LL.L., LL.B., MPA
Barrister, Solicitor & Notary Public
VDK LAW OFFICE
Integrity - Competence - Excellence
838 Somerset Street West, Suite 30, Ottawa Ontario K1R 6R7 Canada
Tel: (613) 867-2071 or (613) 238-8889 - Fax: (613) 238-8890
Email: vdklawyer@rogers.com
Tài liệu 2: E-mail thư thỉnh nguyện của Luật sư Vũ Đức Khanh gửi Văn phòng Thủ tướng Canada đề nghị Thủ tướng can thiệp đòi trả tự do cho luật gia Cù Huy Hà Vũ.
Nơi gửi: VDK LAW OFFICE vdklawyer@rogers.com Đã nhận ngày 18 tháng Ba năm 2011 hồi 11 giờ 25 phút 41 giây Buổi sáng
Chủ đề: Trả lời: Kêu gọi thả ngay và vô điều kiện Ông Cù Huy Hà Vũ
Kính gửi Ngài Stephen Harper, nghị sĩ
Thủ tướng Canada
Văn phòng Phủ Thủ tướng
80 phố Wellington
Ottawa Ontario K1A 0A2 Canada
pm@pm.gc.ca
Trả lời: Kêu gọi thả ngay và vô điều kiện Ông Cù Huy Hà Vũ
Thủ tướng thân mến,
Hôm nay, tôi muốn được gửi tới Ngài những quan điểm của tôi về tình trạng hiện thời của ông Cù Huy Hà Vũ, một người biện hộ và bênh vực các quyền về môi trường và quyền con người, đã bị bắt và giam giữ tùy tiện ở Việt Nam từ ngày 5 tháng Mười một năm 2010.
Căn cứ theo các tài liệu của Tòa án thì ông Cù Huy Hà Vũ bị bắt vì vi phạm điều 88 của Bộ Luật hình sự (Việt Nam). Buổi xét xử ông được ấn định vào ngày 24 tháng Ba năm 2011 tại Tòa án Nhân dân Hà Nội.
Theo lời biện hộ của Trung tâm Pháp lý bảo vệ môi trường gửi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội vào tháng Hai năm 2011, ông Cù Huy Hà Vũ là Tiến sĩ Luật, một nhà hoạt động pháp lý nổi tiếng nhất của Việt Nam. Ông bị bắt ngày 5 tháng Mười một năm 2010 tại một khách sạn ở thành phố Hồ Chí Minh. Sau cuộc bắt bớ đó, nhà cầm quyền tịch thu máy tính của ông Vũ và khám xét nhà ông ở.
Ngay hôm sau, Trung tướng Thứ trưởng (Công an) Tô Lâm và Trung tướng Hoàng Kông Tư Phó Tổng cục trưởng An ninh II phụ trách giao tiếp với công chúng đã họp báo công bố các lời kết tội ông Cù Huy Hà Vũ trong đó có tội: "cung cấp các tài liệu quảng bá thông tin bịa tạc, bêu xấu giới lãnh đạo và những người cầm đầu cơ quan Nhà nước, gây hoang mang cho nhân dân, kích động mọi người chống lại Nhà nước, vu cáo làm hại đến danh dự những người lãnh đạo Nhà nước". Cái “tội” vừa nói đó rành rành nhắc tới chuyện hai lần ông Cù Huy Hà Vũ khởi kiện ông đương kim Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Những tài liệu luận tội được nhắc tới trong cuộc họp báo là hai đơn khiếu kiện vừa nhắc tới bên trên. Đơn khiếu kiện thứ nhất gửi ngày 11 tháng Sáu năm 2009 liên quan tới việc Thủ tướng (Nguyễn Tấn Dũng) ký quyết định 167/2007/QD - TTg ngày 1 tháng Mười một năm 2007 phê duyệt dự án khai thác bô-xit đang tranh cãi ở Tây Nguyên. Đơn khiếu kiện này bị Tòa án nhân dân Hà Nội bác sau bốn ngày gửi tới Tòa. Đơn khiếu kiện thứ hai gửi ngày 21 tháng Mười năm 2010 lên Tòa án nhân dân Tối cao cũng nhằm vào ông Nguyễn Tấn Dũng, lần này là kiện việc ông ký Nghị định 136/2006/ND-CP không cho phép (người dân) được quyền khiếu kiện đông người. Ông Cù Huy Hà Vũ không bao giờ nhận được phản hồi đơn khiếu kiện này, song hai tuần sau khi gửi thư khiếu kiện này lên Tòa thì ông bị bắt giam.
Rành rành là việc bắt giữ tùy tiện ông Cù Huy Hà Vũ liên quan tới các hành động bảo vệ quyền con người của ông. Ông Cù Huy Hà Vũ đã được chọn ra để thủ tiêu các quyền con người của ông, đó là vì vai trò hàng đầu của ông khi viết những đơn khiếu kiện tập trung vào những quyền của cộng đồng và vào việc bảo vệ môi trường, đặc biệt là chúng lại tập trung mũi nhọn vào ông Thủ tướng (Việt Nam). Có thể thấy rõ rằng những điều ông Cù Huy Hà Vũ biện hộ đã gây khó chịu cho những nhóm lợi ích đầy quyền lực, vì thế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tống giam ông.
Dưới ánh sáng của những việc kể ra bên trên, tôi e ngại rằng vụ xử ông Hà Vũ không thể nào là một vụ xử công bằng cho được, và cũng vì những lý do như thế, việc giam giữ ông Hà Vũ là vi phạm pháp luật và không đàng hoàng. Việc bắt giam ông Hà Vũ và các điều luận tội ông là võ đoán và vi phạm các quyền con người của ông đã được công nhận khắp thế giới về việc tự do ngôn luận và không bị giam giữ tùy tiện thuận theo Công ước và các Quyền Chính trị và Công dân mà Chính phủ Việt Nam phải tôn trọng. Tôi đoan chắc rằng việc bắt bớ này nhằm trừng trị một con người đáng trọng, hoạt động nhằm nâng cao chính nghĩa của chế độ pháp trị ở Việt Nam. Theo quan điểm của tôi, tình hình như vậy là hoàn toàn không thể chấp nhận được. Vì vậy tôi mong Ngài hãy chuyển tới đồng nhiệm Việt Nam của Ngài là vị Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chính phủ Việt Nam thông điệp rằng, chúng tôi, nhân dân Canada và Chính phủ Canada yêu cầu Chính phủ Việt Nam hãy thả ông Cù Huy Hà Vũ ngay lập tức và vô điều kiện và bảo đàm ông Hà Vũ không bị tra tấn hoặc đối xử tệ trong thời gian bị giam cầm. Tự do ngôn luận phải được bảo vệ bởi Nhà nước Việt Nam đúng theo những bảo đảm trong Hiến pháp Việt Nam và Công ước về các Quyền Chính trị và Công dân mà Việt Nam dã ký kết.
Xin cảm ơn Ngài đã lưu tâm tới vấn đề vô cùng quan yếu này và mong được Ngài hồi âm sớm nhất có thể.
Kính thư,
Khanh VU DUC, LL.L., LL.B., MPA
Barrister, Solicitor & Notary Public
VDK LAW OFFICE
Integrity - Competence – Excellence
838 Somerset Street West, Suite 30, Ottawa Ontario K1R 6R7 Canada
Tel: (613) 867-2071 or (613) 238-8889 - Fax: (613) 238-8890
Email: vdklawyer@rogers.com
Tài liệu 3: E-mail của Văn phòng Thủ tướng Canada gửi Luật sư Vũ Đức Khanh xác nhận đã nhận được thư thỉnh nguyện.
(Nơi nhận) Khanh VU DUC, LL.L., LL.B., MPA
Barrister, Solicitor & Notary Public
VDK LAW OFFICE
Integrity - Competence - Excellence
838 Somerset Street West, Suite 30, Ottawa Ontario K1R 6R7 Canada
Tel: (613) 867-2071 or (613) 238-8889 - Fax: (613) 238-8890
Email: vdklawyer@rogers.com
Thứ Hai, tháng3/ngày21/năm 2011, Thủ tướng viết:
Từ: Thủ tướng
Chủ đề: Phủ Thủ tướng
Tới: Văn phòng Luật sư Vũ Đức Khanh "VDK LAW OFFICE"
Bản sao gửi: (Bộ trưởng Ngoại giao) "Lawrence Cannon, P.C., M.P."
Ngày Thứ hai, tháng Ba ngày 21, năm 2011, 1giờ59 chiều
Ông K. Vũ Đức thân mến,
Thay mặt Ngài Stephen Harper, tôi xin xác nhận đã nhận được thư e-mail của ông về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.
Xin ông tin chắc rằng những nhận xét của ông đã được xem xét thận trọng. Do chỗ biết rằng vụ việc ông nêu ra là điều Ngài Bộ trưởng Ngoại giao Lawrence Cannon quan tâm đặc biệt, nên tôi mạn phép ông chuyển tiếp thông điệp của ông tới Ngài. Tôi tin chắc rằng Ngài Bộ trưởng sẽ rất hoan nghênh vì được thấy mối quan tâm bền bỉ của ông tới loại vụ việc như vậy.
Xin cám ơn ông đã viết thư cho Thủ tướng.
(Ký tên) M. Bredeson
Viên chức Phủ Thủ tướng phụ trách Giao tiếp
1./ Thư của ông Vũ Đức Khanh, Luật sư thuộc Luật sư đoàn tỉnh bang Ontario, Canada, gửi gửi cho bà Dương Hà báo tin ông vừa có e-mail thỉnh nguyện thư gửi Thủ tướng Canada tố cáo việc Nhà nước Việt Nam bắt giam TS Cù Huy Hà Vũ trái với Hiến pháp và luật pháp Việt Nam cũng như Công ước quốc tế, đồng thời đề nghị Thủ tướng Canada can thiệp với Thủ tướng và Chính phủ Việt Nam trả tự do vô điều kiện cho TS Cù Huy Hà Vũ, và ông đã nhận được phúc đáp của Văn phòng Phủ Thủ tướng Canada.
2./ E-mail thỉnh nguyện thư của Luật sư Vũ Đức Khanh gửi đến Thủ tướng Canada, đề nghị Thủ tướng can thiệp trả tự do cho Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ.
3./ E-mail của Văn phòng Phủ Thủ tướng Canada gửi Luật sư Vũ Đức Khanh xác nhận đã nhận được thư thỉnh nguyện này.
Ban biên tập BVN giao ông Phạm Toàn dịch hai e-mail sau, còn lá thư thứ nhất viết bằng tiếng Việt nên không cần dịch.
Một điều nữa cũng không cần thông dịch - nhưng rất đáng được dùng để đối sánh, đối sánh thế nào thì xin bạn đọc tự hiểu - đó là thái độ lịch thiệp, thượng tôn luật pháp của ông Thủ tướng Canada, qua đó thấy rõ lòng tôn trọng ý kiến người dân cũng như lòng tự trọng của ông Thủ tướng một nước dân chủ đích thực, tuy không "gấp triệu lần" như nước mình.
Bauxite Việt Nam
Tài liệu 1: Thư Luật sư Vũ Đức Khanh gửi Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà
March 23, 2011 2:08:51 AM
Subject: Thỉnh nguyện thư
Kính gửi bà Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà,
Kính thưa bà Luật sư,
Tôi, Vũ Đức Khanh, Luật sư thuộc Luật sư đoàn tỉnh bang Ontario, Canada nay xin được phép gửi đến bà lá thư ủng hộ này và xin phép bà cho tôi được ký tên chung vào thỉnh nguyện thư mà bà đã ký ngày 16/03/2011 gửi cho nhà chức trách Việt Nam về vụ án liên quan đến Luật gia Cù Huy Hà Vũ.
Là một công dân Việt Nam từ lâu mến mộ những cử chỉ và việc làm đáng kính của Luật gia Cù Huy Hà Vũ, tôi vô cùng bức xúc trước việc Chính phủ Việt Nam bắt tạm giam trái luật ông Vũ và đang chuẩn bị đưa ông ra tòa với cáo trạng vi phạm điều 88 của Bộ Luật Hình sự Việt Nam.
Tôi xem hành động này của Chính phủ Việt Nam là vi phạm nghiêm trọng quyền hiến định công dân của ông Vũ thể theo Hiến pháp 1992, đồng thời vi phạm cả Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam đã tham gia ký và thông qua vào ngày 24/09/1982. Ngoài ra, việc bắt giữ và truy tố ông Vũ không những là một tổn thất rất lớn cho sự nghiệp xây dựng và phát triển tư tưởng nhà nước pháp trị tại Việt Nam mà còn làm mất thêm uy tín cũng như ảnh hưởng của Việt Nam trên chính trường quốc tế.
Qua đó và sau khi đọc thỉnh nguyện thư của bà, tôi hoàn toàn nhất trí với nội dung cũng như quan điểm của thỉnh nguyện thư trên nên mạn phép đề nghị bà cho tôi được ký tên chung trong thỉnh nguyện thư này trước khi gửi đến nhà chức trách Việt Nam.
Nhân tiện, tôi cũng xin phép thông báo cho bà rõ là ngày 18/03/2011 tôi cũng đã có công văn gửi đến văn phòng ngài Stephen Harper, Thủ tướng Canada để nhờ ngài Thủ tướng nhân danh Chính phủ Canada can thiệp cho ông Vũ được trả tự do vô điều kiện và ngay lập tức, đồng thời yêu cầu Chính phủ Việt Nam phải cam đoan là không bức hại ông Vũ trong khi ông vẫn còn bị giam giữ. Ngài Thủ tướng Canada cũng đã có công văn trả lời hôm 21/03/2011 rằng vụ việc này đã được chuyển tới ngài Ngoại trưởng Lawrence Cannon để được cứu xét.
Trong khi chờ đợi, nếu bà cần những văn bản trên, xin bà vui lòng gửi cho tôi điện thư thông báo thì tôi sẽ rất lấy làm vinh dự được chuyển ngay đến bà.
Trân trọng kính chào thân ái.
Luật sư Vũ Đức Khanh
Khanh VU DUC, LL.L., LL.B., MPA
Barrister, Solicitor & Notary Public
VDK LAW OFFICE
Integrity - Competence - Excellence
838 Somerset Street West, Suite 30, Ottawa Ontario K1R 6R7 Canada
Tel: (613) 867-2071 or (613) 238-8889 - Fax: (613) 238-8890
Email: vdklawyer@rogers.com
Tài liệu 2: E-mail thư thỉnh nguyện của Luật sư Vũ Đức Khanh gửi Văn phòng Thủ tướng Canada đề nghị Thủ tướng can thiệp đòi trả tự do cho luật gia Cù Huy Hà Vũ.
Nơi gửi: VDK LAW OFFICE vdklawyer@rogers.com Đã nhận ngày 18 tháng Ba năm 2011 hồi 11 giờ 25 phút 41 giây Buổi sáng
Chủ đề: Trả lời: Kêu gọi thả ngay và vô điều kiện Ông Cù Huy Hà Vũ
Kính gửi Ngài Stephen Harper, nghị sĩ
Thủ tướng Canada
Văn phòng Phủ Thủ tướng
80 phố Wellington
Ottawa Ontario K1A 0A2 Canada
pm@pm.gc.ca
Trả lời: Kêu gọi thả ngay và vô điều kiện Ông Cù Huy Hà Vũ
Thủ tướng thân mến,
Hôm nay, tôi muốn được gửi tới Ngài những quan điểm của tôi về tình trạng hiện thời của ông Cù Huy Hà Vũ, một người biện hộ và bênh vực các quyền về môi trường và quyền con người, đã bị bắt và giam giữ tùy tiện ở Việt Nam từ ngày 5 tháng Mười một năm 2010.
Căn cứ theo các tài liệu của Tòa án thì ông Cù Huy Hà Vũ bị bắt vì vi phạm điều 88 của Bộ Luật hình sự (Việt Nam). Buổi xét xử ông được ấn định vào ngày 24 tháng Ba năm 2011 tại Tòa án Nhân dân Hà Nội.
Theo lời biện hộ của Trung tâm Pháp lý bảo vệ môi trường gửi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội vào tháng Hai năm 2011, ông Cù Huy Hà Vũ là Tiến sĩ Luật, một nhà hoạt động pháp lý nổi tiếng nhất của Việt Nam. Ông bị bắt ngày 5 tháng Mười một năm 2010 tại một khách sạn ở thành phố Hồ Chí Minh. Sau cuộc bắt bớ đó, nhà cầm quyền tịch thu máy tính của ông Vũ và khám xét nhà ông ở.
Ngay hôm sau, Trung tướng Thứ trưởng (Công an) Tô Lâm và Trung tướng Hoàng Kông Tư Phó Tổng cục trưởng An ninh II phụ trách giao tiếp với công chúng đã họp báo công bố các lời kết tội ông Cù Huy Hà Vũ trong đó có tội: "cung cấp các tài liệu quảng bá thông tin bịa tạc, bêu xấu giới lãnh đạo và những người cầm đầu cơ quan Nhà nước, gây hoang mang cho nhân dân, kích động mọi người chống lại Nhà nước, vu cáo làm hại đến danh dự những người lãnh đạo Nhà nước". Cái “tội” vừa nói đó rành rành nhắc tới chuyện hai lần ông Cù Huy Hà Vũ khởi kiện ông đương kim Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Những tài liệu luận tội được nhắc tới trong cuộc họp báo là hai đơn khiếu kiện vừa nhắc tới bên trên. Đơn khiếu kiện thứ nhất gửi ngày 11 tháng Sáu năm 2009 liên quan tới việc Thủ tướng (Nguyễn Tấn Dũng) ký quyết định 167/2007/QD - TTg ngày 1 tháng Mười một năm 2007 phê duyệt dự án khai thác bô-xit đang tranh cãi ở Tây Nguyên. Đơn khiếu kiện này bị Tòa án nhân dân Hà Nội bác sau bốn ngày gửi tới Tòa. Đơn khiếu kiện thứ hai gửi ngày 21 tháng Mười năm 2010 lên Tòa án nhân dân Tối cao cũng nhằm vào ông Nguyễn Tấn Dũng, lần này là kiện việc ông ký Nghị định 136/2006/ND-CP không cho phép (người dân) được quyền khiếu kiện đông người. Ông Cù Huy Hà Vũ không bao giờ nhận được phản hồi đơn khiếu kiện này, song hai tuần sau khi gửi thư khiếu kiện này lên Tòa thì ông bị bắt giam.
Rành rành là việc bắt giữ tùy tiện ông Cù Huy Hà Vũ liên quan tới các hành động bảo vệ quyền con người của ông. Ông Cù Huy Hà Vũ đã được chọn ra để thủ tiêu các quyền con người của ông, đó là vì vai trò hàng đầu của ông khi viết những đơn khiếu kiện tập trung vào những quyền của cộng đồng và vào việc bảo vệ môi trường, đặc biệt là chúng lại tập trung mũi nhọn vào ông Thủ tướng (Việt Nam). Có thể thấy rõ rằng những điều ông Cù Huy Hà Vũ biện hộ đã gây khó chịu cho những nhóm lợi ích đầy quyền lực, vì thế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tống giam ông.
Dưới ánh sáng của những việc kể ra bên trên, tôi e ngại rằng vụ xử ông Hà Vũ không thể nào là một vụ xử công bằng cho được, và cũng vì những lý do như thế, việc giam giữ ông Hà Vũ là vi phạm pháp luật và không đàng hoàng. Việc bắt giam ông Hà Vũ và các điều luận tội ông là võ đoán và vi phạm các quyền con người của ông đã được công nhận khắp thế giới về việc tự do ngôn luận và không bị giam giữ tùy tiện thuận theo Công ước và các Quyền Chính trị và Công dân mà Chính phủ Việt Nam phải tôn trọng. Tôi đoan chắc rằng việc bắt bớ này nhằm trừng trị một con người đáng trọng, hoạt động nhằm nâng cao chính nghĩa của chế độ pháp trị ở Việt Nam. Theo quan điểm của tôi, tình hình như vậy là hoàn toàn không thể chấp nhận được. Vì vậy tôi mong Ngài hãy chuyển tới đồng nhiệm Việt Nam của Ngài là vị Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chính phủ Việt Nam thông điệp rằng, chúng tôi, nhân dân Canada và Chính phủ Canada yêu cầu Chính phủ Việt Nam hãy thả ông Cù Huy Hà Vũ ngay lập tức và vô điều kiện và bảo đàm ông Hà Vũ không bị tra tấn hoặc đối xử tệ trong thời gian bị giam cầm. Tự do ngôn luận phải được bảo vệ bởi Nhà nước Việt Nam đúng theo những bảo đảm trong Hiến pháp Việt Nam và Công ước về các Quyền Chính trị và Công dân mà Việt Nam dã ký kết.
Xin cảm ơn Ngài đã lưu tâm tới vấn đề vô cùng quan yếu này và mong được Ngài hồi âm sớm nhất có thể.
Kính thư,
Khanh VU DUC, LL.L., LL.B., MPA
Barrister, Solicitor & Notary Public
VDK LAW OFFICE
Integrity - Competence – Excellence
838 Somerset Street West, Suite 30, Ottawa Ontario K1R 6R7 Canada
Tel: (613) 867-2071 or (613) 238-8889 - Fax: (613) 238-8890
Email: vdklawyer@rogers.com
Tài liệu 3: E-mail của Văn phòng Thủ tướng Canada gửi Luật sư Vũ Đức Khanh xác nhận đã nhận được thư thỉnh nguyện.
(Nơi nhận) Khanh VU DUC, LL.L., LL.B., MPA
Barrister, Solicitor & Notary Public
VDK LAW OFFICE
Integrity - Competence - Excellence
838 Somerset Street West, Suite 30, Ottawa Ontario K1R 6R7 Canada
Tel: (613) 867-2071 or (613) 238-8889 - Fax: (613) 238-8890
Email: vdklawyer@rogers.com
Thứ Hai, tháng3/ngày21/năm 2011, Thủ tướng
Từ: Thủ tướng
Chủ đề: Phủ Thủ tướng
Tới: Văn phòng Luật sư Vũ Đức Khanh "VDK LAW OFFICE"
Bản sao gửi: (Bộ trưởng Ngoại giao) "Lawrence Cannon, P.C., M.P."
Ngày Thứ hai, tháng Ba ngày 21, năm 2011, 1giờ59 chiều
Ông K. Vũ Đức thân mến,
Thay mặt Ngài Stephen Harper, tôi xin xác nhận đã nhận được thư e-mail của ông về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.
Xin ông tin chắc rằng những nhận xét của ông đã được xem xét thận trọng. Do chỗ biết rằng vụ việc ông nêu ra là điều Ngài Bộ trưởng Ngoại giao Lawrence Cannon quan tâm đặc biệt, nên tôi mạn phép ông chuyển tiếp thông điệp của ông tới Ngài. Tôi tin chắc rằng Ngài Bộ trưởng sẽ rất hoan nghênh vì được thấy mối quan tâm bền bỉ của ông tới loại vụ việc như vậy.
Xin cám ơn ông đã viết thư cho Thủ tướng.
(Ký tên) M. Bredeson
Viên chức Phủ Thủ tướng phụ trách Giao tiếp
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)