Hiển thị các bài đăng có nhãn Y học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Y học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

Mời các cụ xơi thịt ....ông thầy

Mời các cụ xơi thịt ....ông thầy

Luật Hồi Giáo cho phép đàn ông lấy 4 vợ vì thế các quốc gia theo đạo Hồi ăn thịt dê nhiều . Tác gỉa bài viết này cho biết ăn thịt dê phải uống rượu Porto mới phê. Ruợu Porto là loại rượu vang, sản phẩm của Bồ Đào Nha ( product of Portugal ), 20 % alcohol volume với thương hiệu Fonseca Porto bán tại các liquor stores khắp nơi . Giá cả tùy theo rượu mới chế hay để lâu năm.

Thịt dê cứu tinh của phe đàn ông



Ở miền Bắc VN, nghe nói có món tái dê rất độc dáo. Món nầy mà chấm với tương bần thì chắc là hết xảy phải biết, bởi vậy dân gian mới có câu:


Tái dê chấm với tương bần,

Ăn vào một miếng bần bần như dê.
Đêm về vợ lạy tỉ tê,
Tối mai ta lại Tái dê tương bần.

Còn món dê Hà nàm nghe đâu cũng thuộc loại ngoại hạng và huyền bí lắm vì được chế biến từ phôi dê con còn trong bụng mẹ. Theo lời đồn của mấy tay nhậu, thì đây là món thần sầu quỷ khóc chỉ cần ăn thử một lần là trong người sẽ nóng lên rạo rực bừng bừng y như hồi mình hồi còn trai tráng, dám làm sập giường sập chiếu hết. Sao cái món nầy giống cái món dã man ăn thai nhi của một số người Trung Quốc quá vậy!... Quý bạn nào yếu bóng vía xin đừng xem những hình nầy trong Internet. Tác giả cũng hơi nghi ngờ về sự xác thực và tự hỏi có phải đây là những hình của phe đối lập Pháp Luân Công tung ra chăng?
Nghề ăn cũng lắm công phu
 
Qua thăm dò, các quán nhậu bên nhà cho biết đại khái là sau khi cắt cổ, dê phải được thui bằng lửa than, sau đó thì dùng nước sôi cạo sạch trước khi nấu thành món ăn…


Riêng người Hoa, họ thích bỏ chung với các phụ liệu khác để thịt thêm phần thanh ngọt và để khử bớt mùi dê. Theo thông lệ bên nhà, cái gì được thiên hạ chiếu cố nhiều, cung không đủ cầu, thì sẽ có người tung ra hàng dỏm. Thịt dê dỏm chen chân với thịt dê thiệt không biết đâu mà rờ.
Tại Bắc Mỹ, thịt dê thường được dùng để nướng barbecue, làm saucisse, hoặc để chiên, v.v…

Dân Bắc Phi và Á Rạp rất thích món méchoui tức là dê hoặc cừu nguyên con được lụi qua thanh sắt và đem quay nướng trên lửa.
Thịt dê và đệ tam khoái: một huyền thoại của Việt Nam
Có một điểm đặc biệt ở đa số đàn ông Việt Nam, hễ nói đến món thịt dê là họ liên tưởng ngay đến ba cái vụ kia. Có lẽ đây là tâm lý chung của bọn mày râu qua sự thán phục thành tích super của «sư phụ» hay «ông thầy» chăng?
Mỗi sáng, «ông thầy» đứng điểm danh ngay phía ngoài cửa chuồng. Hễ nường nào có dấu hiệu hot thì «ông thầy» phóng lên liền, khỏi cần phải mời mọc lâu lắc lôi thôi.
 

Nghe bạn bè ai nấy đều ca tụng món thịt dê quá cỡ thợ mộc nên người viết vì tánh tò mò cũng đã dùng thử đôi ba lần, nhưng sau mỗi lần ăn thì thấy nó cũng vậy mà thôi! Chắc có thể tại mình ăn không đủ liều chăng?
Thịt dê được sử dụng ở khắp mọi nơi trên thế giới. Mạnh nhất là khối Hồi giáo, Trung đông, dân Á rạp, Phi châu, Nam Mỹ, dân vùng biển Caribbean, Ấn độ, kế đến là Hy lạp, Ý, Thổ nhỉ kỳ và Trung quốc.
 
Riêng tại VN, mấy năm trước đây phong trào nuôi dê nuôi cừu đã nở rộ lên rất mạnh mẽ trên khắp cả xứ. Nhưng phải biết, cái gì cũng vậy, cần phải tuân theo luật cung cầu, bởi vậy cho nên đến năm 2007, thì nói chung tình hình nuôi dê bên nhà đang trên đà xuống dốc thảm thương và đã có nhiều nhà chăn nuôi đã bị phá sản rồi.
 


Thịt dê tại Canada

Tại Canada, thịt dê chủ yếu nhắm vào khách hàng Hồi giáo và dân Á rạp.
 
Thị trường dê sống, được phân làm bốn hạng: 30lbs, 60lbs, 90lbs và 150lbs cân sống.
Đa số dê hạ thịt đều phải theo nghi thức Hồi giáo và thịt này được gọi là thịt halal.
 
Con vật bị chính tay người Hồi giáo cắt cổ thay vì bị bắn vào đầu như cách hạ thịt thường lệ ở tại các lò sát sinh Canada.
Thống kê năm 2001 cho biết, Canada có một đàn dê vào khoảng 182.151 con. Nhu cầu thịt dê tăng rất mạnh nhân những ngày lễ hội tôn giáo như lễ Ramadan của Hồi giáo hay lễ Navadurgara của Ấn độ giáo.
 
Số lượng thịt dê không đủ cung ứng cho thị trường nên Canada phải cho nhập thêm thịt dê đông lạnh từ Úc châu và từ Tân Tây Lan.
 
Thịt dê tại Hoa Kỳ
 
TIẾT CANH DÊ

Bộ Canh nông Hoa kỳ USDA cho biết, năm 2007 Hoa kỳ có một đàn dê trên 3 triệu con, trong số nầy 2,2 triệu con là dê dùng để sinh sản (breeding) và số còn lại là dê nuôi để lấy thịt. Texas đứng đầu về số dê nuôi (51%), kế đến là Tennessee.
 
Năm 1993, giống dê South African Boer goat được nhập thẳng từ Nam Phi để gầy giống. Boer goat được cho phối giống với dê địa phương Spanish goat của Hoa Kỳ để tạo ra những dòng dê có năng suất thịt rất cao.
 
Tuy với một đàn dê trên 3 triệu con, nhưng Hoa kỳ hằng năm cũng cần phải nhập thêm thịt dê. Năm 2006, 11.070 tấn thịt dê được nhập cảng từ Úc châu và Tân Tây Lan.
 
Cùng với số di dân vào Hoa kỳ không ngừng gia tăng nhu cầu về thịt dê cũng theo đó mà tăng theo. Các lễ hội tôn giáo của các sắc dân là dịp thị trường thịt dê rất bận rộn.
 


Nói chung các dịp lễ như Phục sinh (Eastern), Giáng sinh và Tết Tây, các loại dê từ 10kg đến 60kg bị hạ thịt rất nhiều.
Lễ Phục Sinh: chủ yếu là dê tơ lối 15kg.
Lễ Ramadan của Hồi Giáo kéo dài một tháng, họ chỉ được ăn trước khi mặt trời mọc và sau khi mặt trời lặng mà thôi. Dê sử dụng dưới 30kg.
Lễ Id al Adha: dùng dê từ 30 đến 50kg.
 
Lễ các sắc dân Caribbean: dê 30 - 40kg
Tết Tàu: chuộng dê nặng từ 30 - 40kg
 
Các sắc dân Latino Nam Mỹ thích dê tơ (cabrito). Nếu dê to hơn thì được quay nướng kiểu mechoui. Seco de Chivo là món thịt dê rất thường thấy trong những dịp lễ hội của người Latino sống tại Hoa Kỳ.
Một số Mexican American chuộng thịt dê để kỷ niệm lễ Cinco de Mayo (May 5)
 
Ấn độ kỷ niệm lễ Dassai: sử dụng dê dực còn tơ.
Người Do Thái cũng ăn thịt dê nhưng con vật phải được chính tay ông cố đạo của họ (gọi là Rabin) cắt cổ và giết thịt theo nghi thức Do Thái Giáo. Thịt nầy được gọi là thịt Kosher tương tợ như thịt Halal của bên phía Hồi Giáo.
 

Tính chất của thịt dê


Thịt dê, tiếng Anh gọi là chevon, đây là thịt dê tơ rất ngon ngọt. Thịt nhiều nạc, ít mỡ, ít cholesterol. Dê dưới một tuổi cho thịt ngon nhất. Nói chung, thịt dê sau khi nướng, chứa ít chất béo bão hòa hơn thịt gà (đã được lột da) và cũng còn ít hơn cả thịt bò và thịt heo nữa.
Trở ngại duy nhất là thịt dê có mùi khen khét, mùi dê nên nhiều người không thích cho lắm. Đây là một điểm hơi lạ vì dê mà không ưa mùi dê.
Các người bán thịt tại Canada có mách cách khử bớt mùi dê như sau: lấy một tí giấm, hoặc vắt hai trái chanh vào tô thịt dê, chế vô một ít dầu ăn, trộn đều và đem cất trong tủ lạnh trong vài giờ đồng hồ, mùi dê sẽ bớt đi.
 
Cách khác là chúng ta có thể dùng quế để khử bớt mùi dê, hoặc lúc nấu thịt cho sôi thì vớt bỏ bớt mỡ.
 
Ở Việt Nam, người ta thường khử mùi dê bằng cách bóp thịt với một tí rượu trắng có trộn gừng bằm nhuyễn. Sau đó xả lại bằng nước lạnh.
Có người dùng beer để khử mùi.
 
Một cách khác là có thể trụn sơ thịt trong nồi nước sôi có thêm vài tép sả hoặc một hai khúc mía.
Tác giả cũng có nghe nói, bên nhà có người rất tàn nhẫn. Họ đổ ba xị đế vào họng cho dê uống cho say, sau đó họ đánh con vật hay dần nó, bắt nó chạy toé khói cho thật mệt lả, để nó xuất mồ hôi mồ hám ướt hết cả lông cốt để đem bớt chất hôi ra ngoài rồi sau đó mới cắt cổ. Họ nói làm như vậy thịt sẽ hết hôi và trở nên mềm và ngon hơn (?). Thấy sao mà dã man quá xá cỡ, tội mạt kiếp nghe hôn mấy cha! Nếu làm theo kiểu nầy mà ở Tây ở Mỹ thì đi ủ tờ gỡ lịch là cái chắc về cái tội dám hành hạ «ông thầy».
 
Thịt dê qua cái nhìn của Đông y
 
Theo Gs Đỗ tất Lợi, thịt dê có tính nhiệt và có tác dụng trợ dương, bổ huyết, rất tốt cho phụ nữ mới sinh nở.


Hầu như tất cả bộ phận của dê đều có thể sử dụng để làm thuốc. Dái dê và thận dê có tính bổ dương. Xương thịt có thể sử dụng để nấu cao. Thịt dê có tác dụng giải độc, bổ huyết, chữa choáng váng, đau lưng, chóng mặt, nhức đầu, v.v…
ThS Hoàng khánh Hiển, Khoa học&Đời sống thì thịt dê là một loại thịt có thể trị được nhiều thứ bệnh lắm, trong đó phải kể đến bệnh thằng nhỏ khó dạy làm thằng lớn buồn rầu quá cỡ.
Người viết đã sưu tra rất nhiều tài liệu của các nhà chuyên môn về Đông y bên Việt Nam, thì tất cả đều nói thịt dê rất bổ và có tính trợ dương ngoại hạng.
 
Tuy vậy, tác giả cũng chưa từng tìm thấy được một tài liệu khoa học nào đáng tin cậy trong Medlines và MedPubs nói đến tính chất trợ dương của thịt dê. Phải chăng ý niệm trợ dương trong Đông Y nên được chúng ta hiểu theo một nghĩa rộng rãi hơn?.
 
Thịt dê nhiều chất dinh dưỡng như Protein, nhiều bần tố, chất khoáng, nhiều vitamins, nhiều chất sắt thì đương nhiên là bổ cho cơ thể rồi. Và việc bổ chung nầy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho những chuyện khác không mấy hồi...
 
Tình hình thịt dê tại Montréal
 
Tại Montréal, thịt dê chỉ được thấy bán trong một số tiệm thịt của người Hồi giáo mà thôi. Thịt dê, ngọc hành hay trái dứng ‘sư phụ’, dế bò và ngầu pín cũng có thể mua không mấy khó khăn. Muốn mua dái dê phải nói là mình muốn mua amourettes! Đó các bạn thấy không? Đâu phải chỉ có đám đực rựa Việt Nam mình mới chuộng mấy món ác liệt nầy đâu? Thịt dê là nỗi ám ảnh chung của bọn đực rựa Á châu và Phi châu.
Thịt ngon nhất là phần đùi sau, gọi là gigot giá 12$/kg, các phần khác rẻ hơn chút đỉnh. Trái dứng 9$/kg. Bảo đảm thịt đã được thú y sĩ nhà nước kiểm soát vệ sinh và áp pru tại lò sát sinh rồi.
 
Không có thịt dê dỏm tại Canada đâu.
 
Ngược lại, bên nhà thì coi chừng, dê thiệt dê giả dê dỏm đều có cả!.
Tại Việt Nam, nghe đâu giá 1kg thịt dê vào khoảng 50.000-60.000 đồng gì đó, tính ra cũng còn quá rẻ so với giá thịt dê mua tại Canada.
 

Lai rai ba sợi với bạn bè


Mùa hè đẹp trời, tác giả đề nghị các bạn nào chịu chơi, mua đại nguyên một con dê (lối 12kg) đã được làm sẵn rồi. Đem về ướp theo kiểu VN, sau đó đem ra sân nổi lửa lên quay theo lối méchoui. Làm sao có dụng cụ? Khỏi phải lo, bạn hãy đến các tiệm cho mướn dụng cụ, chẳng hạn như tiệm Lou Tec ở Montréal. Tại đây, bạn có thể mướn dụng cụ gồm có một cái moteur và phụ tùng lỉnh kỉnh để quay méchoui. Tiền mướn dụng cụ lối 72$ cho một weekend. Nhớ rủ bạn bè và cũng đừng quên phone người viết đến tham dự cho vui và nhắn mỗi người phải nhớ xách theo rượu chẳng hạn như Porto loại trên 10 tuổi thì càng tốt. Bảo đảm sẽ vui lắm, một dịp để gặp gỡ bạn hiền và tha hồ vừa đớp hít vừa đấu láo chuyện trên trời dưới đất, chuyện mấy em chân ngắn chân dài. Sau buổi nhậu mình dám quên luôn cả đường đi lối về lắm!
Nói giỡn cho vui vậy thôi chớ cũng đừng quên rằng “Please don’t drink and drive”, «L’alcool au volant, c’est criminel» đó nghe hông các bạn già. Láng cháng dám bị phú lích giam mất bằng lái đau lắm chớ chẳng phải chơi đâu!
Kết luận
 

Thật ra, tác giả cũng không biết được thịt dê thật sự có effet hay có bổ cho ba cái vụ kia hay không? Đây chẳng qua là kinh nghiệm riêng rẽ của mỗi cá nhân mà thôi. Một số bạn bè của người viết là dân ăn nhậu chuyên nghiệp, họ có tật hay nổ dữ lắm và cả quyết, thề thốt rằng thịt dê rất trợ dương. Effet ít hay nhiều tùy cũng tùy thuộc vào tuổi tác của con dê hai cẳng, dê đực hay dê cái, dê non còn sung sức hay dê cụ đã cúp bình thiếc rồi, và cũng tùy vào cách biến chế thành món ăn nữa. Đây là chưa kể đến vấn đề « sung với bồ, bất lực với vợ »
Có một điều chắc chắn là phần đông các đấng mày râu trên thế giới như Việt Nam, Trung Hoa, Thái Lan, Lào, Phi Luật Tân, Á Rạp, Phi Châu, v.v…đều tin tưởng là vụ đó là chuyện có thiệt.
Đối với đa số đàn ông phe ta, thịt dê đã gắn liền với đệ tam khoái trong nhóm ANDI. Sự kiện hễ mỗi khi nói đến chữ dê là tạo trong đầu một hình ảnh liên hệ xa gần đến trò múa lân dù rằng chưa phải là mùa Tết nhứt. Các nhà khoa học gọi đây là tự kỷ ám thị. Phải chăng hiện tượng nầy đã giúp phần nào cho tác dụng trợ dương.
 

Hình minh họa

Theo ý kiến của cơ quan Quản trị Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ FDA, thì không có thức ăn nào có tính trợ dương (aphrodisiac) cả. Món trợ dương thật sự chỉ có giữa hai cái lỗ tai của chúng ta và đây chỉ là yếu tố tâm lý mà thôi.
Khoa học gọi đây là hiệu quả vờ effet placebo!
 
Còn một cách trị liệu khác đôi khi cũng có kết quả lắm mà chả cần phải ăn thịt dê hoặc uống thuốc men gì cả, đó là áp dụng cách cấm trại chay tịnh trong đôi ba tuần, cho tinh thần thật sảng khoái và thân xác khỏe khoắn hẳn rồi mới xả trại. Thời gian tịnh dưỡng càng lâu thì càng tốt, nhưng không được quá lâu sẽ quên bài hết. Đúng với câu use it or loose it! Đây là một trong nhiều cách trị liệu theo lối thiên nhiên nếu chẳng may bị mất điện.
Còn các bà, các chị tuy ngoài mặt, ngoài miệng thì nói ăn làm chi ba cái thứ đồ quỷ đó, nhưng mà trong bụng lại mở cờ, hăng hái móc hầu bao đưa anh hai cho các ông đi mua thịt dê về nhậu cho đã đời, rồi sau đó tối thành quỷ sống để được các bà…khen!
 
Sướng chưa! Chuyện khó hiểu thiệt.
Nguyễn Thượng Chánh 

Thứ Bảy, 4 tháng 6, 2011

Nguyên Lý ÂM DƯƠNG Trong KHÍ CÔNG

Nguyên Lý ÂM DƯƠNG Trong KHÍ CÔNG

NGUYÊN LÝ ÂM DƯƠNG TRONG KHÍ CÔNG
::: Ngũ Lang :::
KHÍ CÔNG là một sản phẩm tổng hợp của 2 nền văn hóa lớn ở Đông Phương là Ấn Độ và Trung Hoa.
Khí Công nhằm mục tiêu giúp cho người tập luyện nó:
- ngừa được bệnh tật nếu chưa có bệnh;
- chữa tận gốc bệnh tật nếu bị bệnh;
- làm chậm phát sanh những hiện tượng trong tiến trình lão hoá của con người như da nhăn, mắt mờ, tai yếu, phản ứng chậm chạp, đi đứng khó khăn v.v..
Để đạt được những mục tiêu hết sức khó khăn nói trên, Khí Công dựa trên nguyên tắc cơ bản:
Đưa vào cơ thể, bằng một kỹ thuật đặc biệt, một chất quý nhất trong vũ trụ là khí PRANA để tạo nên sự thăng bằng ÂM, DƯƠNG trong con người. Khi Âm, Dương – 2 dạng năng lượng trong con người – được thăng bằng thì mọi cơ phận, mọi chức năng hoạt động hài hoà và con người được khoẻ mạnh.
Theo Y học Đông Phương, con người bị bệnh là vì 2 năng lượng Âm, Dương trong con người vì một nguyên nhân nào đó mất quân bình hay là mất thăng bằng, Dương trội hơn Âm, hay Âm trội hơn Dương.
Chữa bệnh tận gốc là dùng phương cách nào đó tái lập sự thăng bằng Âm, Dương cho con người.
Trong chiều hướng trị liệu nầy, Đông Phương (Ấn Độ và Trung Hoa) đưa ra nhiều phương cách, uống thuốc, châm cứu, tập luyện. Qua kết quả thực tế, có 3 pháp môn tỏ ra có giá trị trị liệu cao nhất. Đó là Khí Công, Dịch Cân Kinh, Thái Cực Quyền (Tai Chi)
Sau đây chúng ta khảo sát sâu thêm về Âm, Dương để xem 2 dạng năng lượng nầy là gì, sự quan trọng của nó đối với con người, tại sao sự thăng bằng Âm, Dương mang lại sức khoẻ.
I- ÂM, DƯƠNG DƯỚI CÁI NHÌN TÂY PHƯƠNG.
Thông thường, người ta có định kiến ý niệm Âm, Dương là sản phẩm riêng biệt của triết học Đông Phương, Tây Phương không chấp nhận tư tưởng nầy. Đây là một cái nhìn phiến diện. Chúng ta hãy đi vào Vũ Trụ Luận (sự hình thành và biến hoá) của Tây Phương để xem các học giả Tây Phương nghĩ gì về Âm, Dương.
Theo một giả thuyết đưa ra cách dây trên 30 năm, hiện nay được đa số nhà bác học chấp nhận thì vũ trụ hiện tại thoát thai từ một vụ nổ lớn (Big Bang) đã xảy ra cách đây 15 tỷ năm. Con số này là do sự tính toán của các tác giả của giả thuyết, người tiên khởi là nhà bác học Georges Lemaître, người Bỉ.
Trước vụ nổ lớn, không có vũ trụ, tất nhiên là không có không gian, thời gian, không có gì hết, chỉ có cái KHÔNG tuyệt đối (Néant, theo Pháp; Nothingness theo Anh, Mỹ). Không rõ vì một nguyên nhân nào, một tiếng nổ lớn xảy ra trong cái hư vô cách đây 15 tỷ năm. Ngay sau tiếng nổ, gọi là khoảnh khắc O, ở một điểm nhỏ hơn đầu mũi kim, bỗng nhiên xuất hiện một đợt sóng năng lượng khổng lồ. Vài phần tỷ giây sau O, xuất hiện một vũ trụ rất mới, cực kỳ nhỏ, với tỷ trọng cao hơn hàng tỷ lần tỷ trọng của chì và nhiệt độ vượt qua 100 tỷ độ. Một giây sau vụ nổ, nhiệt độ hạ xuống 6 tỷ độ và vũ trụ mới ra đời bắt đầu dãn nở ra vô tận. Vũ trụ nầy không ngừng to lên, lạnh đi và loãng ra nhiều từ điểm xuất phát.
Theo nhà Vật lý Steven Weinbert (giải Nobel Vật Lý 1979) thì 1/10 giây sau vụ nổ, xuất hiện phôi vật chất đầu tiên là các hạt Proton, nhân của nguyên tử khinh khí. Xuất hiện tiếp theo là các hạt cơ bản mọi loại. Khi hạt Proton tích điện Dương gặp hạt Electron tích điện Âm, một cái lực đẩy 2 hạt cơ bản này kết hợp lại. Lực nầy gọi là Lực Điện Từ (force électro-magnétique) do ai tạo ra còn là một bí ẩn, kết hợp 2 hạt tích điện một Âm, một Dương để tạo nên một vật thể gọi là Nguyên Tử (Atome). Nguyên tử đầu tiên là nguyên tử khinh khí. Theo khoa học Tây Phương thì nguyên tử là viên gạch của vật chất vì nhiều nguyên tử phối hợp lại thành Phân Tử (motécule) và từ Phân Tử mới có Tế Bào Phôi của sự sống để đi đến mức cuối cùng của chu kỳ sinh hoá là sự xuất hiện con người với Thể Xác và Trí Tuệ.
Từ lúc khoa học nguyên tử ra đời ở Tây Phương, chúng ta thấy có 2 tư tưởng căn bản trong Vũ Trụ Luận:
- Sự hiện diện của 2 năng lượng gọi là Âm và Dương trong nội tại của Nguyên Tử tức là trong nội tại của bất kỳ vật thể nào trong vũ trụ hiện tại trong đó có con người.
- Sự thăng bằng Âm, Đương nội tại là điều kiện cần thiết để cho vật thể tồn tại và biến chuyển.
Như thế dù Tây Phương không hệ thống hoá Âm Dương thành một học thuyết ứng dụng trong nhiều lãnh vực của đời sống con người như ở Đông Phương, vật lý nguyên tử cho người ta thấy Âm, Dương là 2 năng lượng căn bản trong vũ trụ.
II- ÂM, DƯƠNG DƯỚI CÁI NHÌN ĐÔNG PHƯƠNG
Ở Đông Phương, Vũ Trụ Luận căn cứ trên kinh DỊCH. Tương truyền kinh DỊCH do vua Phục Hy làm ra vào thời đại chưa làm ra chữ, cách đây khoảng trên 4000 năm. Vua Phục Hy trên nhìn thiên văn tinh tú, dưới quan sát muôn vật đã nhận thấy ở bất kỳ nơi đâu từ vật chất cấu tạo đời sống đến đời sống có một sự biến đổi thường trực. Tác nhân gây ra sự biến đổi nằm trong nội tại của sự vật. Đó là 2 động thể đối chọi nhau mà khi hợp lại gây ra biến đổi, được vua Phục Hy gọi là Âm và Dương, căn cứ vào đặc tánh của mỗi động thể như nóng và lạnh, cứng và mềm v.v… Vua Phục Hy đưa ra một thuyết về sự hình thành và biến hoá của vạn vật trong vũ trụ gọi là DỊCH, nghĩa đen là biến đổi.
Theo quan niệm DỊCH thì nguyên thủy của mọi nguyên thủy là vô cực, tức là hư vô – không có gì hết. Vô cực của DỊCH đúng là NÉANT của Tây Phương. Vô cực sinh THÁI CỰC. Trong khi Tây Phương đưa ra thuyết tiếng nổ lớn tức là một hình thức biến chuyển từ KHÔNG tới CÓ, thì Đông Phương dùng chữ SINH đồng nghĩa với sự biến chuyển từ không tới có nhưng không nói rõ hình thức biến chuyển như Tây Phương.
Thái cực là một khối hỗn độn không rõ được bản chất và đặc tính trong đó chứa sẵn 2 động thể tương phản mệnh danh là khí Âm và khí Dương. Nếu so sánh khái niệm Thái Cực với sự xuất hiện của vũ trụ vài phần tỷ giây sau tiếng nổ trong học thuyết Big Bang thì người ta có thể nói đây chỉ có một biến cố và danh từ sử dụng khác nhau ở Tây Phương và Đông Phương.
Một sự trùng hợp lý thú khi Steven Weinberg nói rằng phôi vật chất đầu tiên xuất hiện trong vũ trụ là hạt Proton, vật nhỏ nhất và đơn giản nhất. Còn Đông Phương quan niệm Thái Cực còn gọi là Đạo là cái gì đồng nhất trong vũ trụ từ lúc chưa sinh hoá, từ lúc còn là vật nhỏ cuối cùng của vật chất.
Khi so sánh tư tưởng của Đông Phương và Tây Phương về sự ra đời và biến hoá của vũ trụ, người ta có thể khẳng định Đông cũng như Tây đều xem căn bản của vạn vật trong vũ trụ là 2 dạng năng lượng với tánh chất tương phản là Âm và Dương.
Theo kinh DỊCH, 2 khí Âm và Dương kết hợp nhau để sinh hoá mãi mãi tạo ra vạn vật.
Tiến trình sinh hoá khởi đầu với sự ra đời 4 bộ mặt gọi là TỨ TƯỢNG (hình dung bằng bốn mùa)
Tứ Tượng nhờ ảnh hưởng không ngừng của Âm và Dương sinh thêm 8 hiện tượng mới là:
- Kiền hay Càn chỉ Trời
- Khôn chỉ Đất
- Chấn chỉ Sấm sét
- Tốn chỉ Gió
- Ly chỉ Lửa
- Cấn chỉ Núi
- Đoài chỉ Đồng cỏ
Tám hiện tượng này gọi là BÁT QUÁI, là 8 hình dạng khác nhau của vũ trụ.
Chất của vũ trụ được thoát sinh ra từ Bát Quái do Âm, Dương làm động lực gồm 5 loại gọi là NGŨ HÀNH : Kim, Mộc, Thủy, Hoả, Thổ.
Năm HÀNH nầy tương sinh và tương khắc trong một chu kỳ khép kín gọi là QUY LUẬT.
- Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim
- Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hoả, Hoả khắc Kim.
Quan niệm về Sinh, Khắc của 7 yếu tố Âm, Dương và Ngũ Hành là định luật chung của vạn vật trong không gian và thời gian và đó là nguyên tắc căn bản của đạo DỊCH.
Từ vạn vật, cổ nhân cho rằng con người được hình thành là do sự kết hợp của 2 khí Âm, Dương được cụ thể hoá là đàn bà và đàn ông và 5 chất Ngũ Hành.
Vì thế con người được xem là một Tiểu Vũ Trụ, được hình thành và biến hoá theo quy luật Sinh, Khắc của Âm, Dương và Ngũ Hành đối với vạn vật trong Đại Vũ Trụ.
Đại Vũ Trụ sinh động nhờ Âm, Dương, Tứ Tượng, Bát Quái, Ngũ Hành thì con người cũng biến dịch y như thế. Vì đồng chất và đồng biến nên giữa con người và vạn vật có mối tương ứng mật thiết. Đó là tinh lý của thuyết “Thiên Nhân tương dữ” hay là thuyết “Thiên Địa vạn vật đồng nhất thể”.
III- CON NGƯỜI VÀ TÁC ĐỘNG ÂM – DƯƠNG.
Nguyên lý của Khí Công là mang lại sự thăng bằng Âm, Dương trong con người để được khoẻ mạnh. Chúng ta cần tìm hiểu xem Âm, Dương trong con người nằm ở đâu và tác động lẫn nhau cách nào.
Con người là sự hợp thành của 2 thể với bản chất và tánh chất riêng biệt:
- Một là THÂN (xác thân) : là thể Vật Chất.
- Hai là TÂM (tâm thức): là thể Phi Vật Chất.
Hai thể này có đặc tánh vừa đối lập nhau vừa bổ túc nhau và sự thăng bằng của 2 thể giúp cho con người tồn tại và sống khoẻ mạnh. Như thế, ta có thể xem THÂN và TÂM là 2 dạng năng lượng ÂM và DƯƠNG trong đó THÂN là ÂM và TÂM là DƯƠNG. Sở dĩ chúng tôi gọi Thân là Âm vì khi con người chết, thể xác trở nên lạnh cứng. Trong phân loại Âm, Dương: nóng là Dương, lạnh là Âm.
Sự thăng bằng giữ Thân và Tâm để có sức khoẻ là một hiện tượng mà y học Đông Phương đã công nhận từ ngàn xưa. Ở Tây Phương, y học hiện đại khi công nhận có những bệnh gọi là Thân Tâm bệnh (maladies psycho-somatiques) đã mặc nhiên công nhận tác động hổ tương của Thân và Tâm trong vấn đề sức khoẻ.
1- Âm, Dương của Tâm:
Tâm thức con người bao gồm tánh tình, động thái, cảm xúc, trí nhớ, hoạt động trí tuệ. Mỗi lãnh vực tâm thức đều có Âm, Dương ở trong như vui-buồn, cứng cỏi – mềm yếu, cương quyết – nhu nhược, năng động – thờ ơ, nhớ lâu – mau quên, thông minh – u tối v.v…
Sự thăng bằng Âm, Dương của Tâm là tổng hợp thăng bằng Âm, Dương của toàn thể hợp phần trong Tâm. Trong tình trạng thăng bằng có những yếu tố sau đây. Nếu không chế ngự được, sẽ làm mất đi thăng bằng Âm Dương của Tâm:
- Sự lo sợ
- Buồn rầu, hờn giận
- Dục vọng
- Lòng tham
- Tư tưởng ác độc
- Hận thù
- Sự ganh ghét
Những yếu tố này gần giống như Lục dục, Thất tình trong giáo lý nhà Phật tác động lên Tâm như một chất độc đối với cơ thể. Làm cho Tâm bị “nhiễm độc”, mất đi sự thanh tịnh, từ đó gây ảnh hưởng xấu lên Thân.
Đây là nguồn gốc của những căn bệnh xảy ra do rối loạn chức năng như cao huyết áp, suy nhược thần kinh v.v…
2- Âm, Dương của Thân:
Theo Đông Y, trong cơ thể có 2 yếu tố quan trọng nhất chi phối sức khoẻ là KHÍ và HUYẾT.
Khí, huyết chỉ mang lại sức khoẻ khi được lưu thông điều hoà. Mọi sự tắc nghẽn trong lưu thông của Khí hoặc Huyết đều dẫn đến một căn bệnh.
Về HUYẾT, thể hữu hình thì ai cũng đều biết tính chất, công dụng nên không bàn thêm. Ở đây, chúng ta khảo sát KHÍ, một thể vô hình để biết KHÍ là gì, ở đâu ra, đường di chuyển trong cơ thể, công dụng của nó đối với sức khoẻ.
Theo Đông Y, vạn vật sinh hoá được là nhờ KHÍ . “Sinh hoá chi đạo, dĩ khí vi bản”. Trong con người, khí luôn luôn lưu thông khắp cơ thể, có đường lối nhất định, có trật tự thời gian nhất định, có chu kỳ nhất định, xuất nhập thăng giáng, hết lại bắt đầu, như vòng không nối. Khí dẫn Huyết để nuôi các bộ phận trong cơ thể, bảo toàn sinh mệnh. Khi nói Khí dẫn Huyết thì người học Đông Y phải xem đây là một định đề (postulatum) cực kỳ quan trọng, phải chấp nhận mà không đòi hỏi sự chứng minh bằng phương pháp duy lý.
Cái sức lực vô hình cực kỳ quan trọng cho sự sống nầy ở đâu mà ra?
Ở đây chúng ta phải nhờ ánh sáng khoa học Tây Phương chiếu rọi vào. Khoa học Tây Phương cho rằng chữ KHÍ của Đông Phương là một loại năng lượng tổng hợp do các tế bào, các tổ chức của cơ thể con người sản sinh ra một cách thường xuyên. Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng nói rõ hơn: KHÍ là năng lượng do Dưỡng Khí (oxygène) đốt tinh hoa dinh dưỡng tại tế bào sinh ra và có nhiều loại năng lượng: năng lượng nhiệt (nhiệt độ), năng lượng vận động (cơ năng), năng lượng điện (điện năng) v.v…
Theo Đông Y, con người sống được là nhờ năng lượng của KHÍ, thiếu nó con người sẽ chết. Dạng thức căn bản của KHÍ là THẦN KHÍ.
THẦN là nguyên lý tối cao, điều tiết mọi hoạt động của cơ thể: Thần lực, Thần sắc, Thần quang v.v… Đông Y cho rằng con người là một chỉnh thể hữu cơ có sự chỉ huy tập trung và thống nhất. Động lực chỉ huy là THẦN. Công cụ mà THẦN vận dụng để chỉ huy mọi hoạt động sinh lý là KHÍ . Khí chu lưu thường trực trong cơ thể theo một hệ thống đặc biệt goị là HỆ KINH LẠC.
KINH là đường chính đi dọc cơ thể. LẠC là đường ngang, những nhánh từ Kinh rẽ ra, nối các Kinh lại với nhau và với tạng phủ. KINH ăn sâu dưới da. LẠC ở cạn dưới da, đem KHÍ chu lưu khắp cơ thể vì HỆ KINH LẠC bên trong liên hệ với các tạng phủ; bên ngoài bao quát khắp đầu mình chân tay là cho cơ thể con người là một khối thống nhất.
Khi KHÍ, HUYẾT lưu thông điều hoà, không có nơi nào bị nghẽn thì Âm, Dương trong cơ thể được thăng bằng. Hậu quả của sự thăng bằng nầy là thể xác khoẻ mạnh.
IV- VAI TRÒ CỦA KHÍ CÔNG ĐỐI VỚI SỨC KHOẺ
Bằng một kỹ thuật đặc biệt, người tập Khí Công đem vào cơ thể nhờ hệ Kinh Lạc một loại khí quý nhất trong vũ trụ, tiếng Phạn gọi là PRANA.
Khí PRANA vào cơ thể tăng cường LỰC cho luồng khí sẵn có thường trực tại đây. Vì một lý do nào đó, Khí trong con người yếu đi không lưu thông điều hoà tạo nên những điểm tắc nghẽn trong hệ Kinh Lạc. Điểm tắc nghẽn càng nhiều, càng lớn, bệnh càng trầm trọng vì Khí tắc nghẽn kéo theo Huyết tắc nghẽn. Nhờ PRANA tăng lực, luồng Khí trong cơ thể đủ sức khai thông những điểm tắc nghẽn. Luồng Khí chu lưu thông suốt, Huyết chu lưu thông suốt theo. Đó là công dụng ngừa bệnh và chữa bệnh của KHÍ CÔNG.
Riêng về khả năng của Khí Công làm chậm tiến trình lão hoá, một lần nữa chúng ta phải nhờ ánh sáng của Y học Tây Phương.
Theo Tây Y, trong con người có những Tuyến Nội Tiết (glandes endocrines) chỉ đạo hoạt động của mọi cơ phận trong thân. Có nhiều tuyến nội tiết, nhưng có 7 tuyến đóng vai trò chính yếu mà quan trọng nhất trong các tuyến đó là tuyến YÊN (glande hypophyse) nằm về phía sau trong vỏ não. Khi con người còn trẻ và khoẻ mạnh, các tuyến nội tiết hoạt động điều hoà, tiết ra những chất gọi là KÍCH THÍCH TỐ (hormones). Các chất nầy thúc đầy và kiểm soát hoạt động mọi cơ phận trong thân người. Tuyến YÊN đóng vai trò “nhạc trưởng” vì nó tiết ra kích thích tố thúc đẩy các tuyến khác hoạt động điều hoà. Trong những kích thích tố của tuyến YÊN, có một chất gọi là Kích Thích Tố Tăng Trưởng, có vai trò hết sức quan trọng trong chức năng giữ cho cơ thể được trẻ trung. Bắt đầu 50 tuổi, tuyến YÊN hoạt động yếu đi, không còn cung cấp kích thích tố tăng trưởng đầy đủ, cần thiết như thời trẻ. Tiến trình lão hoá bắt đầu vào độ tuổi 40 (tùy thể trạng của mỗi người, tiến trình này diễn ra sớm hơn hay chậm hơn) diễn ra nhanh hơn khi cơ thể thiếu kích thích tố tăng trưởng. Hậu quả của sự thiếu nầy là bên trong, sự thay thế các tế bào chết không còn đầy đủ như thời trẻ. Bên ngoài những dấu hiệu lão hoá hiện ra: da nhăn, mắt mờ, tai kém v.v… Trong tình trạng nầy, nếu suy luận hợp lý thì cung cấp cho cơ thể kích thích tố tăng trưởng nhân tạo như thời trẻ thì con người giữ được trẻ. Rất tiếc là Bà Mẹ Thiên Nhiên không chấp nhận như thế. Kích Thích Tố nhân tạo vào cơ thể mang lại hại nhiều hơn lợi, có khi đưa tới tử vong.
Giải pháp hợp lý cho vấn đề trẻ hoá phải phù hợp với thiên nhiên. KHÍ CÔNG đã đáp ứng được những ràng buộc đó vì Khí Công đưa vào Hệ Kinh Lạc khí PRANA có khả năng làm quân bình Âm, Dương toàn thân. Khi Âm, Dương cơ thể quân bình thì mọi cơ phận trong đó có tuyến YÊN hoạt động điều hoà trở lại gần như thời trẻ.
Chúng ta phải hiểu ý nghĩa tương đối trong khả năng trẻ hoá của môn Khí Công. Một người 70 tuổi tập Khí Công không thể trở lại hình dáng lúc 40 tuổi. Thường trông người đó trẻ hơn tuổi thật độ 10 tuổi. Bấy nhiêu đó cũng là quý lắm rồi. Thật ra, sự trẻ nằm trong những điểm khác quý hơn trẻ trong hình dáng. Đó là những người tập Khí Công thành công đạt được những điểm quý báu sau đây so với tuổi thật:
- Ít bị những bệnh thông thường của người già hành hạ như phong thấp, bệnh lẫn (Alzheimer) v.v…
- Mắt sáng
- Tai thính
- Âm thanh giọng nói trong trẻo
- Đầu óc minh mẫn
- Phản ứng linh hoạt.
Giá trị trẻ hoá của Khí Công nằm ở các điểm trên và ngay trong thời đaị quá thiên về vật chất, Khí Công vẫn được xem là một trong những pháp môn quý báu của Đông Phương nói riêng và của loài người nói chung.
Bài viết này nhằm mục đích giúp cho những người muốn học Khí Công biết tiền nhân dựa trên lý thuyết căn bản nào đã sáng tác ra nó để có đức tin mạnh mẽ vào một môn mà mình sẽ bỏ công sức luyện tập.
Ngoài đức tin, người tập Khí Công phải có quyết tâm sắt đá tập đến nơi đến chốn, có đức kiên nhẫn vượt bực, chấp nhận những khó khăn lúc ban đầu và tập thật đúng theo lời dạy của người nào may mắn được học qua môn Khí Công chân truyền nầy. Khi đáp ứng được những đòi hỏi nêu trên, người tập luyện sẽ hưởng được thành quả kỳ diệu của Khí Công về sức khoẻ và duy trì lâu dài tuổi trẻ.
Hải ngoại, ngày 25-7-1997
NGŨ LANG
NGŨ LANG là một trong những bút hiệu của Đại Tá Lê Quang Nhơn,  xuất thân khóa 2 Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức   (tức là trường BB Thủ Đức sau nầy ) Từng là Chỉ Huy Trưởng đơn vị 101 Tình Báo Chiến Lược và Chỉ huy phó Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo. Đơn vị cuối cùng là Chánh Sở 1 An Ninh Quân Đội, Đà Nẵng. Sau khi gia đình đã được di tản qua Mỹ vào ngày 20 tháng 4, 1975 , Ông đã ở lại chiến đấu đến năm 1979 bị VC bắt và kêu án Tử Hình…
Ngoài những bài viết về Chính Trị, ông còn viết những bài biên khảo về Y Học .

Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2011

THÁI ĐỘ TRƯỚC SỰ HOÁ GIÀ

THÁI ĐỘ TRƯỚC SỰ HOÁ GIÀ

THÁI ĐỘ TRƯỚC SỰ HÓA GIÀ
Bác sĩnguyenyduc
Già là một giai đoạn của cuộc đời, tương tự như tuổi dậy thì của thiếu niên, trưởng thành của trung niên. Trong giai đoạn này, những người già có vài điểm tương đồng đủ để tạo ra một mô hình cho tuổi đó.
Trong diễn tiến hóa già, cơ thể bắt đầu có những thay đổi theo chiều đi xuống, thường là từ tốt sang xấu về cấu tạo và chức năng của các bộ phận. Tóc bắt đầu bạc, da bắt đầu nhăn, răng lung lay, bước đi chậm chạp. Công năng cơ thể giảm sút như tiêu hóa khó khăn, giấc ngủ gián đoạn, trí nhớ kém.. Thay đổi quan trọng nhất là tăng nguy cơ bệnh hoạn và cần thời gian lâu hơn để phục hồi sau bạo bệnh. Một số người cao tuổi cũng trở thành thụ động, không tham gia, không đòi hỏi và có khuynh hướng tự cô lập, sống một mình.
Nhiều cố gắng để giải thích lý do của sự hóa già nhưng đa số mới chỉ là lý thuyết.
Có người nói cơ thể như một cái đồng hồ sinh học, được lập trình để sống một khoảng thời gian nào đó rồi ngưng.
Có thuyết nói tới sự tích lũy các sai lầm của nhiều phần tử trong tế bào hoặc tích lũy các chất phế thải trong tiến trình tăng trưởng của cơ thể.
Người ta cũng nhắc tới sự hư hao tả tơi của các cơ quan bộ phận theo thời gian sử dụng; phản ứng tròng tréo của các hóa chất, những đột biến của gene tế bào hoặc do tác dụng của sự oxy hóa, của gốc tự do (free radicals).
Nói chung, sự hóa già ít khi được “càng giẻo càng dai” như nhiều người già mong ước.
Có khó khăn, thay đổi, chẳng lẽ người cao tuồi mình lại ngồi im chịu trận, chấp nhận mọi an bài.
Nhà hùng biện La Mã Ciceron đã nói: ” Tuổi già chỉ được trọng nể khi tự chiến đấu, duy trì cái quyền hạn của mình, tránh lệ thuộc và khẳng định vị trí vĩnh cửu của tuổi già trong xã hội”.
Thôi thì có sinh thì có tử. Tre già cũng phải nhường đất mầu mỡ cho măng non tăng trưởng chứ. Cho nên, ta cứ thuận theo lẽ tự nhiên mà từ từ đi vào chu kỳ Sinh, Lão, Bệnh, Tử một cách tích cực, nhẹ nhàng.
Thích nghi với hoàn cảnh mới
Thích nghi là một số những hành động có tính cách điều chỉnh được sử dụng để phù hợp với một hoàn cảnh, điều kiện hoặc môi trường mới. Sự thích nghi thường diễn ra một cách tự nhiên, không cần cố gắng nhưng cần kiên nhẫn, liên tục.
Với người cao tuổi, thích nghi với sự đổi thay trong đời sống hàng ngày là điều cần biết, cần được áp dụng để đối phó khéo léo ngõ hầu tránh khó khăn cho nếp sống mùa Đông cuộc đời..
Có những thay đổi đến từ từ với sự hóa già mà khi chú tâm ta có thể đương đầu một cách tự nhiên. Chẳng hạn các thay đổi diện mạo như tóc bạc, da nhăn, không ảnh hưởng mấy tới sức khỏe. Nhưng cũng có thay đổi bất thình lình như sau một tai nạn, một tang tóc thì ngoài việc tự mình thích nghi, còn cần sự hỗ trợ của người khác.
Thích nghi cần có một số hành động:
1-Thái độ chấp nhận sẽ có những thay đổi.
Diễn tiến sự thay đổi khác nhau ở mỗi người nhưng hậu quả nói chung là sẽ mang tới cho tuổi già một vài khó khăn.
Khi nói đến sự hóa già, nhiều người có thái độ thụ động cam chịu, coi nó như một số mệnh phải nhận. Với họ, già sẽ đưa tới sự tàn phá thể xác, suy giảm trí tuệ, rồi tan rã con người. Họ cũng sợ già, không giám nghĩ tới nó. Cho nên Simone de Beauvoir đã mơ tưởng tới một thời kỳ mà con người sẽ không qua giai đoạn già trước khi mãn phần. Như con phù du chết đi mà không già.
Nhưng con người không phải là con phù du. Đời sống là con đường đi tới, chỉ có một chiều với nhiều giai đoạn khác nhau. Vả lại nếu già có nhược điểm thì nó cũng có ưu điểm với nhiều ý nghĩa đáng quý của con người già. Như sự khôn ngoan hơn, thoải mái, bớt vướng víu nợ trần, an tâm tự tại…
Diễn tiến của sự hóa già cũng khó mà chống cự, tránh né ngoại trừ là một phần nào ta có thể trì hoãn nó. Cho nên tuổi thọ bây giờ so với mấy chục năm về trước đã cao hơn và hy vọng còn cao nữa.
Không chống cự được thì thái độ hợp lý hơn là chấp nhận nó một cách tích cực: sống thật tình và tận dụng từng giai đoạn của cuộc đời. Sống với con người thực của mình, hòa hợp với chính mình, với tuổi thực của mình chứ không làm ra vẻ. Chấp nhận tích cực là lựa chọn sự thực, lựa chọn một cách tự do giữa thực tế và hư cấu.
Sự thực thường chỉ có một mà hư cấu thì muôn mặt. Một lão nhân 68 tuổi mà muốn tranh tài cao thấp với một thanh niên sung sức về một môn điền kinh thì sợ là không thực tế mà còn bị gán cho là gàn bướng, hâm.
2- Dự đoán.
Người cao tuổi cần dự đoán là vào giai đoạn cuối cuộc đời sẽ có những thay đổi gì. Biết trước để ứng phó, để giảm thiểu hậu quả xấu, tăng cường lợi thế trước khi bất lợi xảy ra.
Ví dụ như đã có nhiều bằng chứng rằng tuổi cao dễ bị tai biến não khi huyết áp hoặc cholesterol lên quá cao thì ta tránh các nguy cơ đưa tới các căn bệnh này. Đó là bớt chất béo, giảm muối mặn, không hút thuốc, vận động cơ thể đều đặn…
Hoặc dự đoán khi về già lợi tức sẽ giảm thì cần có kế hoạch tài chánh thỏa đáng cho nhu cầu vừa phải sau này.
3- Bù đắp.
Thích nghi cần có sự bù đắp vào phần khiếm khuyết, khiếm dụng mà sự hóa già lấy đi để ta có thể cân bằng cuộc sống.
Chẳng hạn tập trung sức lực vào các hoạt động ưu tiên cho cuộc sống; tìm sự gần gũi của bạn bè, cộng đồng để tránh đơn côi; sử dụng xe lăn hoặc lắp khớp nhân tạo khi đi lại khó khăn; mang kính để nâng cao thị giác…
Một khía cạnh không kém phần quan trọng là ta thường nghe một số cụ nói tôi ” già-yếu” rồi, đâu còn khỏe mạnh trai tráng như quý ông.
Ở lời nói này, vô tình các cụ đã gắn liền trạng thái YẾU vào sự HÓA GIÀ.
Hóa già là một diễn tiến sinh học với một số đặc trưng về thể chất, một số hành vi, tâm trạng riêng biệt của người cao tuổi hòa đồng trong môi trường xã hội. Tất cả đều liên hệ với nhau, không thể xem xét riêng rẽ, tách rời.
YẾU là một trạng thái của suy nhược của cơ thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra: nếp sống vô độ, phung phí nghịch lẽ thường hoặc do các bệnh hoạn kinh niên.
Yếu không phải là một bệnh, không có ám số chẩn đoán trong danh muc nhập bệnh viện hoặc danh mục của Y Tế Thế Giới. Nó không phải là lẽ tất nhiên của sự hóa già. Bằng chứng là nhiều người cao tuổi mà vẫn duy trì đầy đủ sinh lực sau một độ tennis nhẹ, một cuộc đi bộ, đi lại nhẹ nhàng, không suy yếu.
Không ai phủ nhận là với sự hóa già, có nhiều thay đổi về cấu tạo, chức năng các bộ phận. Một số những thay đổi này không có ảnh hưởng nhiều lắm tới sinh hoạt người tuổi cao. Một số có chiều hướng đi xuống khiến con người không duy trì được các sinh hoạt của những năm về trước. Cái khó là liệu mình có muốn vượt qua các thay đổi đó hay để nó lôi cuốn mình vào dốc lộ.
Tâm lý con người ảnh hưởng rất nhiều tới diễn tiến của các khâu “lão, bệnh, tử. Nhìn vào tấm gương, thấy vài vết nhăn trên gương mặt với mái tóc lốm đốm trắng đen là có người đã vội vàng cho rằng mình đã già rồi. Và bắt đầu tiết kiệm năng lượng, giảm hoạt động, thu mình, bớt giao du nói là dành thì giờ nghỉ ngơi.
Mấy gợi ý để sống già tích cực
Năm 2004, Hội Tâm Lý bên Úc có thực hiện một cuộc khảo sát, thăm dò ý kiến 1507 người tuổi từ 18 tới trên 61 về tuổi già.
Hơn 60% người tham dự cho hay tuổi già có nhiều điều lý thú mà mọi người nên tận hưởng: không còn bị ràng buộc với việc làm; có nhiều thì giờ với vợ chồng con cháu; tự do du lịch đó đây…
Một lão nhân có ý kiến: “Tôi luôn luôn nhìn phần/ góc cạnh sáng sủa của cuộc đời. Nào ai biết được tuổi già có những gì nhưng tôi luôn luôn tận hưởng đời sống của tôi”
Một lão nhân khác quan tâm tới sức khỏe, ví theo ông, có sức khỏe giúp ta làm được nhiều điều có ích cho bản thân và cho xã hội.
Hội đưa ra một số đề nghị để sống già tích cực:
-Nâng niu gìn giữ cái mà mình đang có, không ghen tuông đố kỵ với người khác.
-Nếu thấy có điều không vừa ý thì thay đổi chúng đi.Không thay đổi được thì sống chung hòa bình với chúng.
-Giận dữ, chỉ trích, nhục mạ bản thân và tha nhân rất có hại cho sức khỏe.
-Đã quyết định việc gì thì làm ngay,
-Năng vận động cơ thể đều đặn mỗi ngày để duy trì chút sức mạnh thể xác, tránh đau xương nhức khớp, mất thăng bằng cơ thể.
-Duy trì một chế độ dinh dưỡng cân bằng, đa dạng các loại thực phẩm và tiêu thụ vừa đủ với nhu cầu cơ thể. Giảm thiểu chất béo, muối đường, rượu
-Thường xuyên tham dự vào các hoạt động có tính cách kích thích trí óc như chơi cờ tướng, majon, ô chữ, domino, đọc sách báo.
-Khám sức khỏe tổng quát theo định kỳ, tìm hiểu về các bệnh đang có, dùng thuốc theo đúng chỉ dẫn.
-Duy trì sự liên lạc với mọi người để vui buồn có nhau, tránh lẻ loi, cô đơn. Nếu sức khỏe cho phép, tham gia vào các sinh hoạt chung, các việc thiện nguyện trong cộng đồng, khu xóm.
-Giảm thiểu những căng thẳng, những nỗi buồn không tên thường ngày bằng cách nói thẳng cảm nghĩ của mình, rồi “quẳng gánh lo đi và vui sống”.
Kết luận
Danh tướng Douglas Mc Arthur của Hoa Kỳ có nhận xét sau đây về tuổi già: “Chúng ta già không phải vì đã sống qua một số năm tháng mà già vì trốn bỏ lý tưởng. Năm tháng làm da ta nhăn nhúm; chối bỏ lý tưởng làm nhầu nát tâm hồn. Lo âu, sợ hãi, thất vọng là những kẻ thù nó dìm ta xuống đất den và biến đổi ta thành cát bụi trước khi ta chết”.
Do đó, cũng nên Già một cách lịch sự, trang trọng và có phẩm giá.
(Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức, Texas)