Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch Sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch Sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2011

Rùng rợn chuyện 'ma hành' khi phá mộ vua Trần


Sau cuộc đào phá mộ, bị “ma hành” náo loạn, người dân thôn Bãi Dài không ai dám đến khu vực Khe Nghệ nữa. Thung lũng Khe Nghệ càng trở nên huyền hoặc. Những câu chuyện ly kỳ, rùng rợn quanh lăng mộ được anh Nguyễn Văn Chạm ghi chép lại cẩn thận.
Trong số 8 lăng mộ vua Trần ở An Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh), có lẽ 2 lăng mộ vua Trần Minh Tông và Trần Nghệ Tông là thảm hại nhất. Lăng vua Trần Minh Tông bị ủi mất hoàn toàn khi đắp đập nước. Người ta đã ủi, lăn cổ vật làm vật liệu đắp chân đập, rồi dồn cả vào một hố để lấp lại. Lăng mộ vua Trần Nghệ Tông thì bị rất nhiều người trong xóm Bãi Đá (thôn Bãi Dài) đào bới, tranh cướp tài sản.
Đền Trần thờ các vị vua Trần ở Nam Định. 

Theo lời anh Nguyễn Văn Chạm, người sống cách lăng mộ vua Trần Nghệ Tông chừng 300m, sau khi người dân trong xóm bỏ chạy tán loạn vì có người nói đây là mộ hủi, thì một thời gian sau, có một nhóm người săn đồ cổ tiếp tục tìm đến đào bới. Nhóm người này đào rộng và sâu xuống lòng đất. Tuy nhiên, khi xuống dưới lớp gỗ một chút, thì gặp một phiến đá lớn.

Phiến đá này rất dày, rộng cả chục mét vuông, nặng hàng chục tấn. Nhóm người này đã dùng đủ phương pháp, kéo nhiều thiết bị lên cẩu trục, song phiến đá khổng lồ vẫn không nhúc nhích. Không làm gì được, nhóm người săn đồ cổ đành bỏ cuộc. Họ mặc lăng mộ tan hoang trên mỏm đồi giữa thung lũng Khe Nghệ.
Cổ vật ở lăng mộ vua Trần bị bỏ mặc, cỏ mọc rậm rạp trùm kín. 

Theo lời kể của ông Hứa Văn Phán, thủ từ đền Sinh, sau khi đào phá lăng mộ vua Trần Nghệ Tông, hàng loạt tai họa đã đổ lên đầu người dân trong xóm.

Đầu tiên là ông Nguyễn Văn H., người xóm Bãi Đá. Ông này là người tích cực nhất trong việc đào phá mộ. Sau khi đào mộ, vài tháng sau ông bị chết đuối ở con sông nhỏ chảy qua xã khi xuống sông tắm. Lúc xác nổi lên, mọi người ra vớt, thì kinh hoàng với cảnh tượng đỉa bâu đen xác. Người dân phải dùng thòng lọng kéo xác ông lên bờ, rồi lấy que gạt từng con đỉa.
Bọn săn của đập nát sạch sẽ các cổ vật để tìm vàng bạc. 

Cái chết của ông H. khiến người dân vô cùng sợ hãi, liên tưởng đến cuộc đào phá… “mộ hủi”. Tiếp đó, rất nhiều biến cố xảy đến với người dân nơi đây. Những gia đình gặp tai họa đều mang những thứ lấy từ mộ trả lại. Nhiều người đã nung những chân tảng, tượng đá thành vôi, dù đã tôi vôi, cũng gánh vôi ra trả. Nhiều người mang bàn, ghế, giường, tủ đóng bằng gỗ lấy dưới mộ cũng đem ra mộ đốt. Những cục đá dùng lăn lúa, kê bờ ao cũng được khiêng ra trả lại cho vua.

Ông Đào Văn Hồng vẫn còn sợ hãi khi nhớ lại cuộc đào mộ 20 năm trước. Tôi đến thăm ông khi ông đang nằm còng queo trong giường vì ốm. Vợ ông bảo, từ ngày đào mộ, ông Hồng trở nên ốm yếu hẳn, lại lắm bệnh tật.
Những súc gỗ đào từ lăng mộ vua Trần Nghệ Tông được người dân xẻ ra làm vật dụng. (Ảnh chụp những súc gỗ tương tự vừa đào được từ một ngôi mộ gỗ ở An Sinh). 

Theo ông Hồng, sau cuộc đào phá mộ vua, cả xóm đều gặp vận rủi, các gia đình lục đục, đau ốm, vợ chồng đánh chửi nhau lung tung phèng… Ông Hồng rầu rĩ: “Không biết có phải vì người dân trong xóm xâm phạm mộ vua, rồi bị vua phạt hay không, mà cái xóm này cứ mãi nghèo xác nghèo xơ, nghèo nhất xã, nhất huyện”.

Ngày đào phá mộ, ông Hồng lấy gỗ, vợ ông gánh vôi về bón ruộng. Lúc gánh vôi thì vợ ông mang bầu, chửa 7 tháng. Khi đẻ, con đứa con đã chết vì nhau thai phủ mặt. Nói rồi, vợ ông Hồng dẫn tôi ra thăm mộ con bà. Ngôi mộ vừa được vợ chồng ông xây lại, nhỏ bé, xinh xắn.
Vợ ông Hồng vẫn hãi hùng khi nhớ lại chuyện gánh vôi từ mộ vua Trần về bón ruộng. 

Tai họa không chỉ đổ lên đầu vợ chồng ông Hồng, mà đứa cháu ngoại ông cũng thi thoảng lại dở chứng lạ. Thi thoảng bé lại lăn ra nhà, mắt mũi trợn ngược. Em trai ông Hồng thì bị ung thư phổi, vừa mới chết năm ngoái. Người dân trong làng cũng đồn rằng, do anh này làm nhà vệ sinh quay thẳng về phía mộ vua, nên mới chết!

Sau cuộc đào phá mộ, bị “ma hành” náo loạn, người dân thôn Bãi Dài không ai dám đến khu vực Khe Nghệ nữa. Thung lũng Khe Nghệ càng trở nên huyễn hoặc. Những câu chuyện ly kỳ, rùng rợn quanh lăng mộ được anh Nguyễn Văn Chạm ghi chép lại cẩn thận.
Anh Chạm là người nắm rất rõ những câu chuyện kỳ quái xảy ra trong xóm Bãi Đá. 

Vợ chồng anh Chạm mới chuyển về khu vực đồi Khe Nghệ từ năm 1996. Trước đó, gia đình chú ruột ông Chạm ở mảnh đất này. Chú anh mua từ năm 1990, ngay sau cuộc đào phá mộ. Tuy nhiên, cả gia đình đau ốm triền miên, trẻ con quấy khóc. Sợ quá, nghĩ bị “ma hành”, ông chú đã bán rẻ cho anh Chạm, bỏ đi chỗ khác ở.

Gia đình anh Chạm về ở, vợ chồng cũng lục đục, nay ốm mai đau, mắc đủ các bệnh. Vợ anh mắc bệnh gì chả rõ, thở không ra hơi, sức khỏe suy kiệt không đi nổi. Lúc trèo cây vải, anh Chạm ngã gãy rời xương tay. Sau này, biết ngôi mộ trên đồi là mộ vua, vợ chồng anh phá nhà làm theo hướng khác (ngôi nhà cũ hướng thẳng vào mộ), đặt bát hương thành tâm cúng bái cả ở mộ lẫn trong nhà.
Gạch đặc trưng thời Trần. 

Ngay sau lưng nhà anh Chạm, cách lăng mộ vua Trần Nghệ Tông không xa là nơi vợ chồng người em trai của anh sinh sống. Tuy nhiên, vợ chồng suốt ngày lục đục, quanh năm bần hàn vì bệnh tật. Mấy năm trước, hai người bỏ nhau, vợ đi nơi khác, còn em trai anh chuyển xuống chân đồi sinh sống. Mảnh đất ở Khe Nghệ không dám ở nữa, bán cũng chẳng ai mua.

Hãi hùng nhất là câu chuyện liên quan đến mảnh đất của ông Thảnh và ông Viện. Hai ông này ở huyện Kinh Môn (Hải Dương), không biết đồi Khe Nghệ có mộ vua, nên đã mua chung 2,5 héc-ta đất trên đồi. Toàn bộ mảnh đất của hai ông này nằm trọn trong khu vực có lăng mộ.
 

Có đất rồi, hai ông đã dựng nhà, trồng vải. Tuy nhiên, những sự kiện kinh hoàng diễn ra liên tục với hai ông này. Theo lời anh Chạm, vợ ông Thảnh khi lên đồi bẻ vải, tự dưng lăn đùng ra đất giãy dụa, trợn mắt, sùi cả bọt mép. Lúc đó, nghe dân làng kể nhiều chuyện “ma hành” rùng rợn, ông Thảnh và ông Viện sợ hãi, không dám sống ở thung lũng Khe Nghệ nữa.
Ngôi nhà...
...và công trình phụ trong khu vườn vải của ông Thảnh và ông Viện không ai dám ở, đổ vỡ hoang phế. 

Ông Thảnh và ông Viện đã thuê ông Sỹ trông coi nhà cửa, vườn vải thiều ở Khe Nghệ. Trong khi ông Sỹ đang nhặt những tảng đá, di vật ném xuống hố để lấp lại, thì đột nhiên ông Sỹ lăn đùng ra đất, mắt cứ trợn ngược, co giật toàn thân. Mọi người phải đưa sông Sỹ đi cấp cứu.

Theo anh Chạm, tiếp sau đó, hàng loạt người dẫy cỏ, hái vải thuê cho ông Thảnh và ông Viện, gồm chị Huệ, chị Thu, chị Chiếm, anh Tuấn, trong lúc làm việc trên đồi, cũng đột nhiên chung một triệu chứng là lăn đùng ra đất, mắt trợn ngược như người bị động kinh. Nhưng khi khiêng những người này vào nhà, họ lại hồi tỉnh, đưa đi viện khám thì không ra bệnh gì.
Vườn vải của ông Thảnh và ông Viện bỏ hoang cho cỏ mọc. 

Sau khi hàng loạt người làm vườn thuê cho ông Thảnh và ông Viện bị “ma hành”, lời đồn “thánh vật” càng trở nên ghê gớm. Không ai dám làm thuê cho hai ông này nữa, khu vườn bỏ hoang hoàn toàn, lau lác mọc cao hơn cả vải. Ngôi nhà dựng trong vườn vải, gần khu mộ cũng không có ai ở, mưa gió thổi bay cả mái, trâu húc đổ tường.
Còn tiếp...
(Theo VTC News)

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2011

Không thể bịt miệng một Dân Tộc !


Tưởng niệm 81 năm Ngày Tang Yên Bái (17/06/1930 - 17/06/2011) 

Đây là điều nhắc nhở ta rằng - Không thể bịt miệng một dân tộc
Mà người ta không thể khuất phục - Băng lưỡi kiếm của đao phủ
Luis Aragon
Aragon viết tháng 6-1930 trên báo Công đoàn Paris về khởi nghĩa Yên Bái.


Tưởng niệm 81 năm Ngày Tang Yên Bái (17/06/1930 - 17/06/2011)

"Anh đã là người yêu nước, không làm trọn được nghĩa vụ cứu nước, anh giữ lấy linh hồn cao cả để về dưới suối vàng, chiêu binh rèn súng đánh đuổi quân thù. Phải chịu đựng nhục nhã mới mong có ngày vẻ vang. Các bạn đồng chí còn sống lại sau Anh, phải phấn đấu thay Anh, để đánh đổ cường quyền mà cứu đồng bào đau khổ." Nguyễn Thị Giang, Yên Bái, 17.06.1930.

Ngày nay, khu lăng mộ và tượng đài Nguyễn Thái Học và các anh hùng Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) tọa lạc trong Công Viên Yên Hòa thuộc tỉnh Yên Bái (Yên Báy).

Tỉnh lỵ nằm dọc theo sông Hồng, phiá Tây Bắc của Hà Nội, và cách thành phố này 150 Km. Công viên rộng khoảng 30 mẫu ta, nằm trên đại lộ Nguyễn Thái Học, con đường chính của Yên Bái. Vị trí công viên Yên Hòa được đặt tại "Nhà Máy Xay" cũ, nơi đã đặt máy chém, gần sát khám đường của Tỉnh lỵ.

Phía sau là một dòng sông. Giữa dòng có núi, trên núi có nhiều miếu và đền. Tượng Nguyễn Thái Học và các liệt sĩ hướng về phía Đông Nam. Các pho tượng trông rất giống và hữu thần, nhất là tượng Xứ Nhu. Sau tượng Xứ Nhu là tượng của một binh sĩ VNQDĐ.

Cổng có hàng chữ di ngôn của Nguyễn Thái Học: "KHÔNG THÀNH CÔNG CŨNG THÀNH NHÂN", được chống đỡ bằng 17 trụ cột xây bằng xi-măng cốt sắt, hình bán nguyệt. Mỗi trụ cột tượng trưng cho một vị anh hùng đã hi sinh vì Tổ Quốc tại Yên Báy. Một khối đá hình thang đối diện với phần mộ có khắc câu : "CHẾT VÌ TỔ QUỐC CHẾT VINH QUANG". Khối đá đen này là nơi an vị hài cốt của 17 liệt sĩ.

Sáng sớm ngày 17 tháng 6 năm 1930, mười ba vị anh hùng bước lên đoạn đầu đài ở Yên Bái, nơi 4 vị khác đã bị hành hình trước đó mấy tháng (8.03.1930). Cạnh đó là một bia đá đồ sộ khắc tên 17 vị anh hùng vị quốc vong thân:

1-Nguyễn Thái Học. 2-Phó Đức Chính. 3-Bùi Tư Toàn. 4-Nguyễn An. 5-Đào Văn Nhít. 6-Bùi Văn Chuẩn. 7-Hà Văn Lạo. 8-Ngô Văn Du. 9-Nguyễn Đức Thịnh. 10-Nguyễn Văn Tiềm. 11-Đỗ Văn Tư (Sứ). 12-Bùi Văn Cửu. 13-Nguyễn Như Liên. 14-Nguyễn Văn Thinh. 15-Nguyễn Thanh Thuyết. 16-Ngô Hải Hoàng. 17-Nguyễn Hát Thuần.

Hoàng đế bị thái giám... cắm sừng



Dù bị "kiểm duyệt" gắt gao, Lưu Khắc Minh - gã đàn ông "nguyên vẹn" - vẫn lọt vào cung làm thái giám, gây một trường dâm loạn trong hậu cung.
Thái giám khi vào cung đều bị kiểm tra để đảm bảo họ không còn khả năng gây “rối loạn hậu cung” nữa. Tuy nhiên, có khi người đàn ông hoàn toàn "nguyên vẹn" đã vượt qua được sự “kiểm duyệt” gắt gao này để vào cung làm thái giám, rồi “cắm sừng” cho hoàng đế. Vị vua kém may mắn đó là Đường Kính Tông Lý Trạm. Tuy nhiên, câu chuyện bắt đầu từ thời Đường Hiến Tông Lý Thuần, ông nội Lý Trạm, còn tại vị.
1. Khi Lý Trạm ra đời, cha là Toại Vương Lý Hằng mới 14 tuổi, chẳng có thời gian quan tâm dạy dỗ cậu con trai đầu lòng. Ở cái tuổi đang lớn, thời gian của Toại vương dành cho nững cuộc đấu gà, đấu chó, đấu dế. Lý Trạm ngay từ nhỏ đã chẳng có ai quản, suốt ngày quấn quanh bên bọn thái giám để bày trò đùa nghịch. Năm 812, Lý Hằng được phong thái tử. Lý Trạm vì thế đường đường trở thành Ngạc vương, được ngân khố quốc gia chu cấp. Có nhiều tiền, phòng ốc rộng thênh thang, thái giám hầu hạ cũng nhiều hơn, Lý Trạm càng có nhiều trò vui để chơi.

Những năm cuối đời, Hiến Tông trở nên trái tính trái nết. Rất nhiều thái giám hầu hạ thường xuyên ăn đòn vô cớ. Nhiều người mất đầu không rõ lý do. Quách phi, mẹ của Lý Hằng, thấy cơ hội để con mình lên ngôi đã đến nên tìm tới thái giám Vương Thủ Trừng bàn mưu giết Hiến Tông để đoạt quyền. Năm 820, thái giám Trần Hoằng Chí và Vương Thủ Trừng hạ độc giết chết Hiến Tông, đưa Lý Hằng lên ngôi vua, đời sau gọi là Mục Tông.
Lý Hằng phong thưởng hậu hĩnh cho bọn Trần Hoằng Chí và Vương Thủ Trừng. Thế lực hoạn quan vốn đã bị Hiến Tông áp chế nay lại trở nên lũng đoạn. Vị hoàng đế này dường như muốn giao cả thiên hạ cho bọn hoạn quan để có nhiều thời gian tận hưởng cuộc sống. Sử chép, khi nghi lễ kế vị vừa hoàn tất thì Lý Hằng đã vội chạy đi xem kịch.
Lý Trạm.
2. Lý Hằng lên ngôi, vùi đầu vào những cuộc ăn chơi, chẳng màng đến chuyện lập người kế vị. Thế nên khi vua bị cảm đột ngột, các đại thần vô cùng lo lắng. Bị thúc ép nhiều quá, nhà vua mới đem mấy đứa con ra để cân nhắc. Cuối cùng, chẳng hiểu hồ đồ thế nào, ông ta chọn đứa con học dốt ham chơi giống y hệt mình là Ngạc vương Lý Trạm.

Lưu Quang, một thái giám nhiều quyền thế, có con nuôi là Lưu Khắc Minh bằng tuổi Lý Trạm, nên quyết định đưa y vào cung làm bạn với tiểu thái tử chờ đợi cơ hội vinh thân phì gia. Nhờ uy quyền của Lưu Quang, việc “kiểm duyệt” Lưu Khắc Minh trở nên lỏng lẻo, thành ra Khắc Minh danh là thái giám song vẫn hoàn toàn nguyên vẹn. Lưu Khắc Minh là kẻ rất lanh lợi nên nhanh chóng trở thành kẻ tâm phúc của vị thái tử trẻ tuổi. Lý Trạm không ngờ rằng, chỉ vài năm sau, kẻ tâm phúc ấy lại là kẻ lấy đi mạng sống của mình.
Do ăn chơi sa đọa nên chỉ ngồi được trên ngai vàng bốn năm, Lý Hằng đã chết khi vừa tròn 30 tuổi. Khi các quan đại thần cầm thánh chỉ truyền ngôi đến cung thái tử thì Lý Trạm đã mất tích. Tể tướng Lý Phùng Cát, Quốc cữu Quách Chiêu cuống cuồng cho người đi tìm không thấy đâu. Hỏi bọn cung nữ thì mới hay, đông cung chỉ là một trong vô số nhà nghỉ của thái tử, thi thoảng ngài mới về ngủ một hai đêm. Vì thế, việc tìm thái tử còn khó hơn tìm thần tiên. Tể tướng huy động toàn bộ người mình có đi khắp các ngõ ngách trong hậu cung, mãi mới tìm được Lý Trạm đang dở trận cầu với Lưu Khắc Minh. Khi được báo là cha đã chết, đến lượt cậu được làm vua, Lý Trạm trừng mắt: "Chuyện gì cũng đợi ông mày đá xong trận này mới tính". Nghe nói có Quốc cữu đang đứng đợi, Lý Trạm mới chịu vứt quả bóng da, trở về làm lễ kế vị.

Phải tỏ ra ủ rũ trong đám tang cha với Lý Trạm quả là một cực hình. Chịu được nửa ngày, Lý Trạm không nhịn được nữa, cười váng lên, khiến bá quan được một phen khiếp vía, tưởng hoàng đế quá đau buồn nên phát điên.

Sau đó chỉ vài ngày, vị tân hoàng đế đã biến cả hoàng cung thành trung tâm giải trí khổng lồ. Hôm nay tổ chức đá cầu, ngày mai tổ chức nhạc hội, ngày nào cũng có trò vui. Rồi như sợ người cha vừa qua đời nằm một mình cô đơn nên hoàng đế cho cả một đội quân thanh la não bạt tới bên quan tài gõ trống, khua chiêng ầm ĩ. Người bên ngoài không biết còn nghĩ rằng, hôm ấy hoàng đế cưới thêm vợ mới.
Các vị đại thần cho rằng, hoàng đế mới 16 tuổi, chơi nhiều một chút cũng chẳng hại gì, lớn thêm chút nữa, mọi sự sẽ khác đi. Nào ngờ, Lý Trạm càng chơi càng không muốn dừng lại. Lý Trạm từ nhỏ đã không được học hành đầy đủ, tấu miệng hay tấu chương của các quan, vua đều không hiểu. Thế nên, khi thiết triều, vua rất kiệm lời, thường chỉ nói hai câu: “Chuẩn tấu” hay “Cứ theo đề nghị của khanh”. Sau các quan chẳng ai bỏ công tìm những lời lẽ văn hoa để viết tấu, dâng sớ nữa, cứ việc sao nói vậy để hoàng đế dễ tiếp thu.

Một lần, Lý Trạm muốn xây dựng một tòa cung điện, mọi vật liệu đều đã chuẩn bị xong thì Tể tướng là Lý Trình đứng ra ngăn cản. Lý Trình chẳng phải dùng đến những lý lẽ cao siêu như hại đến tiền bạc cũng như sức lực của nhân dân. Ông chỉ nói đơn giản rằng, chừng ấy gỗ đá, sao hoàng đế không dùng xây cho cha ngài một cái lăng mộ thật đẹp để tỏ lòng hiếu thuận. Điều đó chẳng tốt hơn xây dựng một cung điện để bọn cung nữ ở hay sao? Lý lẽ giản đơn, lời lẽ thông tục nên Lý Trạm hiểu ra và đồng ý ngay.

Lần khác, Lý Trạm muốn lên núi Ly Sơn tắm suối nước nóng. Ngự sử là Trương Quyền Dư vội vã can ngăn. Họ Trương nói một hồi toàn những lời văn hoa to tát, nào là các vị hoàng đế đời trước từ U Vương, Tần Thủy Hoàng, Đường Minh Hoàng cho tới cha ngài là Mục Tông đều vì đến nơi đây mà thiên hạ sinh ra đại loạn, đó là nơi không nên đến chút nào. Lý Trạm nghe xong chẳng những không từ bỏ ý định, ngược lại còn quyết tâm đến tận nơi xem Ly Sơn có thực là nhiều tà ma như vậy hay không.
3. Trong lúc Lý Trạm bị các đại thần xoay như chong chóng trên ngai vàng thì cậu bạn nối khố Lưu Khắc Minh bắt đầu thỏa sức tung hoành chốn hậu cung. Ban đầu, Lưu còn e dè, chỉ vụng trộm với một vài cô cung nữ. Sau, thấy Lý Trạm suốt ngày ở bên ngoài tìm thú vui, không thể quản hết việc hậu cung nên bắt đầu mạnh dạn giở trò dâm loạn. Số cung nữ dính vào bẫy tình của Lưu Khắc Minh từ hàng chục đã lên tới hàng trăm cô. Vụng trộm với các cung nữ mãi cũng nhàm chán, Lưu Khắc Minh quyết định quyến rũ vợ của Lý Trạm là Đổng Thục phi. Đổng Thục phi còn trẻ, lại xinh đẹp song vì Lý Trạm ham chơi nên nàng phải một mình trong hậu cung lạnh lẽo, vì thế nhanh chóng ngã vào vòng tay của Lưu Khắc Minh.

Lý Trạm không hề hay biết vì kể từ lần đi Ly Sơn trở về, vua phát hiện ra một trò vui mới: săn cáo. Một ngày mà không bắn vài con là vua cảm thấy khó chịu. Bọn hầu cận phải chạy khắp các ngọn núi xung quanh kinh thành tìm kiếm ổ cáo để hoàng đế đi săn.
Với Lý Trạm, săn cáo là một cuộc giải trí. Song các thái giám thì ngày phải nằm vùng, đêm phải làm người dẫn đường, rất khổ. Lý Trạm mỗi khi bắn trượt là bao nhiêu tức giận đều đổ cả lên đầu bọn thái giám. Nhẹ thì đòn roi, nặng thì bị tịch thu tài sản, giam vào ngục tối. Ai nấy đều oán hận song chẳng ai dám hé ra nửa lời.

Một hôm trời tối đen như mực, Lý Trạm rời cung đi săn cáo, vì quá tối nên bắn nhầm vào Lưu Khắc Minh. Lưu Khắc Minh nghĩ vua đã biết chuyện vụng trộm của mình nên vờ bắn nhầm để trả thù. Lo lắng cho số phận của mình, y có ý định tạo phản, và được các thái giám khác đồng tình ủng ộ.

Một ngày năm 826, sau đêm săn cáo rất thành công trở về, Lý Trạm mở tiệc đãi bọn Lưu Khắc Minh, nhưng vừa đến phòng thay đồ thì bị bọn Lưu Khắc Minh tắt đèn rồi giết chết trong bóng tối.
Tuy nhiên, số phận của Lưu Khắc Minh cũng chẳng hơn gì Lý Trạm. Ngay sau khi giết được hoàng đế, y đã bị tên hoạn quan kỳ cựu Vương Thủ Trừng điều động binh mã tấn công vào cung tóm gọn rồi buộc phải nhảy xuống giếng tự sát. Dẫu sao, với chuyện dan díu với Đổng Thục phi và giết hoàng đế, Lưu Khắc Minh cũng trở thành hoạn quan độc nhất vô nhị trong lịch sử.
Theo Phunutoday

Thứ Tư, 8 tháng 6, 2011

Tổ quốc không thể nào mất biển


Trịnh Sơn - Đứng lên mau. Bước đi mau. Nếu một ngày Tổ quốc không còn biển. Mọi dòng sông chung tên gọi Bạch Đằng. Mỗi chúng ta là một ngọn chông. Trái tim vót nhọn lửa căm hờn...
*
Sông Hồng chảy về đâu
Sông Gianh sẽ về đâu
Cửu Long biết về đâu
Nếu một ngày Tổ quốc không còn biển

Con sóng mặn ngàn đời như dải lụa đào thơm
Chít eo thon mùa xuân em trẩy hội
Lóng lánh vẩy rồng Lạc Long Quân thẳng lưng nguồn cội
Hải đảo nhấp nhô khát vọng hòa bình

Đứng lên mau
Bước đi mau
Nếu một ngày Tổ quốc không còn biển
Ưỡn ngực Trường Sơn lăn đá lấp Vạn lý trường thành
Dải lụa đào nhuộm máu người hóa thành vuông khăn trắng
Hỡi kẻ thù, ai không có tình yêu ?
Mẹ ngóng con về
Vợ tiễn chồng đi
Anh đợi tin em
Tàn hơi khản giọng
Hỡi kẻ thù, ai không có quê hương ?
Ta tự hào vùi thân đắp nấm mồ dòng giống
Mãi mãi các ngươi phơi xác xứ người

Đứng lên mau
Bước đi mau
Nếu một ngày Tổ quốc không còn biển
Mọi dòng sông chung tên gọi Bạch Đằng
Mỗi chúng ta là một ngọn chông
Trái tim vót nhọn lửa căm hờn

Thứ Hai, 6 tháng 6, 2011

Lòng ái quốc, tại sao không?


Ban Mai
Thà làm quỷ nước Nam
Còn hơn làm vương đất Bắc
(Trần Bình Trọng)
Câu nói nổi tiếng của danh ttướng nhà Trần đã trở thành một trong những biểu tượng của tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc Việt, bất cứ một học sinh nào khi tuổi còn thơ cũng cảm thấy tự hào khi học trang sử đó. Chính các thầy cô đã dạy dỗ chúng tôi lòng yêu nước, chính các bậc cha mẹ đã giáo huấn chúng tôi lòng yêu nước, chính các bậc tiền nhân đã hun đúc chúng tôi lòng yêu nước. Vậy, hôm nay tại sao không?
Hãy lật lại lịch sử Việt Nam 4.000 năm qua.
Năm Quý Mão 43, Hai Bà Trưng khởi binh chống lại quân Hán, lập ra một quốc gia với kinh đô tại Mê Linh và tự phong là nữ vương. Sau khi khởi nghĩa bị quân Hán của Mã Viện đánh bại, tương truyền vì không muốn bị làm nhục, Hai Bà đã nhảy xuống Hát Giang tự vẫn.
Đó là sự thật.
Năm 248, Bà Triệu lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống xâm lược của quânĐông Ngô, do Lục Dận, Thứ sử Giao Châu chỉ huy. Nhiều nghĩa binh đã tử trận vào năm đó. Theo sử sách, bà chống đỡ với quân Đông Ngô được 5-6 tháng thì phải lui về xã Bồ Điền và cùng đường tự tử. Khi ấy Triệu Thị Trinh mới 23 tuổi. Cũng giống Trưng Trắc và Trưng Nhị, Triệu Thị Trinh quyết không để bị khuất phục. Chết, nhưng không nhục.
Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ởBiển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang san, cởi ách nô lệ chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta!" Câu nói bất hủ của người con gái anh hùng của dân tộc Việt đã tỏ chí khí mà ngàn sau dân Việt mãi còn kính phục.
Năm 938, Ngô Quyền đánh tan quân xâm lược Nam Hán trên sông Bạch Đằng, kết thúc 1.000 năm Bắc thuộc của Việt Nam.
Đó là sự thật.
Năm 1075-1077Lý Thường Kiệt đánh bại quân nhà Tống, viêt nên bài “Thơ Thần” bất hủ nói rõ chủ quyền bất khả xâm phạm của đất nước:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Đó là sự thật.
Thế kỷ thứ XIII, Trần Hưng Đạo ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông. Tháng 12 năm Giáp Thân 1284, hiệu Thiệu Bảo năm thứ 6, đời Trần Nhân-Tông, đại binh Thoát Hoan tiến đánh Chi LăngHưng Đạo VươngTrần Quốc Tuấn lui quân về Vạn Kiếp. Thượng hoàng Thánh Tông thấy thế giặc mạnh, cho mời Hưng Đạo Vương về Hải Dương mà phán rằng "Thế giặc to như vậy, mà chống với chúng thì dân chúng bị tàn sát, nhà cửa bị phá hại, hay là trẫm sẽ chịu hàng để cứu muôn dân?" Vương tâu: "Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức, nhưng Tôn-Miếu Xã-Tắc thì sao? Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin trước hết hãy chém đầu thần đã!”
Đó là sự thật.
Thế kỷ XVLê Lợi chiến thắng quân Minh. Triều đình nhà Minh, vốn rất muốn xâm lăng Đại Việt, đã nhân cơ hội Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trầnđể đưa quân tràn vào đất Việt năm 1407. Hồ Quý Ly liên tục thất bại và đến tháng 6 năm 1407, thì bị bắt cùng các con trai là Hồ Nguyên Trừngvà Hồ Hán Thương. Vương triều Đại Ngu sụp đổ. Nhà Minh thực hiện chính sách xóa bỏ nền văn minh sông Hồng bằng các cách như đốt, phá và chở về Yên Kinh tất cả các loại sách, văn bia có nói về dân Việt, của dân Việt tạo lập, thiến hoạn đàn ông người Việt, khiến cư dân Việt rất uất ức và căm giận.
Mùa xuân năm Mậu Tuất 1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt đồng chí hướng phất cờ khởi nghĩa. Tự xưng là Bình Định Vương và kêu gọi dân Việt đồng lòng đứng lên đánh quân xâm lược nhà Minh cứu nước. Lê Lợi chiến thắng quân Minh, trở thành vị vua đầu tiên của nhà hậu Lê. Bản thiên cổ hùng văn “Bình Ngô Đại cáo” của đại thần Nguyễn Trãi đã thể hiện rõ ý chí độc lập, tự cường của dân tộc Việt.
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Đó là sự thật.
Thế kỷ XVIII, Vua Quang Trung đại phá quân Thanh.
Cuối năm 1788, vua Thanh Càn Long sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 29 vạn quân, huy động từ lưỡng Quảng, Vân Nam, Quý Châu hộ tống Lê Chiêu Thống về Việt Nam với danh nghĩa phù , vào chiếm đóng Thăng Long.
Nghe tin báo, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22 tháng 12 năm 1788), Nguyễn Huệ xuất quân tiến ra Bắc Hà. Để lấy danh nghĩa chính thống, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung, chỉ trong vòng 6 ngày, quân Tây Sơn đập tan hơn 20 vạn quân Thanh, Sầm Nghi Đống thắt cổ tự vẫn sau thảm bại trận Ngọc Hồi, Tôn Sĩ Nghị phải bỏ ấn tín cuốn cờ mà chạy.
Đó là sự thật.
Thế kỷ XX, năm 1979, Trung Quốc xâm chiếm biên giới phía Bắc, quân đội nhân dân Việt Nam đã đánh bật âm mưu bành trướng bá quyền của Bắc Kinh.
Đó là sự thật.
Những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI
Ngày 30-12-1999, Hiệp định ký kết giữa Việt Nam và Trung Quốc đã làm nóng lòng hầu hết những người Việt Nam còn nghĩ đến quê hương đất tổ khi Ải Nam Quan không còn trên lãnh thổ Việt Nam.
Những ngày đầu tháng 12-2007, Quốc vụ Viện Trung Quốc phê chuẩn việc lập thành phố Tam Sa, nhằm trực tiếp quản lý các quần đảo trên Biển Đông, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Đứng trước việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa và Trường Sa, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao “nói lên tình hữu nghị”, ngày 9-12 dân chúng Việt Nam biểu tình phàn đối việc xâm chiếm Trường Sa, Hoàng Sa, đại diện chính quyền sợ hãi thanh minh “đó là tự phát, nhà nước chưa cho phép”.
Còn hôm nay, những ngày tháng của năm 2011 ngư dân Việt bị Tàu Trung Quốc bắn giết chính trên hải địa của mình, tàu dầu khí Việt Nam bị cắt thiết bị chính ngay trong thềm lục địa Việt Nam, lẽ nào chúng ta cũng chỉ im lặng cúi đầu?
Sự thật là: Trong thế kỷ XX, XXI chúng ta đã nhiều lần lùi bước, Trung Quốc nhiều lần lấn lướt coi khinh, phần đất của dân tộc mà cha ông ta đã đổ bao xương máu gìn giữ nay có nguy cơ không còn nữa.
Đó là sự thật.
Đã đến lúc chúng ta không thể khuất phục.
800 năm trước, Trần Quốc Tuấn đã từng viết nên bài “Hịch tướng sĩ" khuyên răn các binh lính học tập, rèn luyện võ nghệ, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến Nguyên Mông lần thứ 2, nội dung áng hùng thư đó, ngày nay đọc lại sao vẫn còn nhiều điều cho ta suy nghĩ: “… ta cùng các ngươi sinh ở thời nhiễu nhương, gặp phải buổi gian nan, trông thấy những ngụy sứ đi lại rầm rập ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ… Ta đây, ngày quên ăn, đêm quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa được xả thịt lột da của quân giặc, dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa, thì cũng cam lòng… Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm…”
Ngày nay, nước ta có phải vậy không?
Bài viết này, không phải hô hào dân ta ngay lập tức phải xông pha chiến đấu giành lại Hoàng Sa - Trường Sa, đó là việc lâu dài, cần có thời gian xây dựng binh lực hùng cường. Đất nước là chung của mọi người, không của riêng ai.
Bài viết này, chỉ mong góp thêm tiếng nói ủng hộ hành động yêu nước của tuổi trẻ Việt Nam. Lịch sử 4.000 năm đã minh chứng, ta mạnh địch lùi, ta lùi địch sẽ lấn lướt. Vậy tại sao chúng ta không biểu tình ôn hòa phản đối hành động ngang ngược của Trung Quốc, tai sao không rầm rộ kêu gọi cộng đồng quốc tế chú ý, đem Biển Đông ra đàm phán trước Liên Hiệp Quốc. Và quan trọng nữa, phải cho Trung Quốc biết ý chí quyết tâm giữ mỗi thước đất, mỗi thước biển của 90 triệu dân Việt.
Hãy để tuổi trẻ Việt Nam nói lên tiếng nói tự trọng của một dân tộc, cho dù yếu sức cũng không đớn hèn.
Đừng để chúng tôi hổ thẹn với tiền nhân.
“Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để đen răng
Đánh cho nó chích luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”
(Chiếu xuất quân - Quang Trung – Nguyễn Huệ)
B. M.
2/6/2011 (Bài viết này chỉnh sửa lại từ bài viết Hổ thẹn với tiền nhânviết ngày 14/12/2007)
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.